Văn Hóa / Văn Học

Chuyển Hóa Phiền Não

Kính thưa quý phật tử và chí thiện hữu tri thức.

Hôm nay, ngày chủ nhật 13 tháng 11 năm Ất Dậu, trong không khí trang nghiêm thanh tịnh này, chúng tôi xin được cúng dường chúng hội một thời giảng có tựa là “GIEO BÒN PHƯỚC ĐỨC”.

Trên đời này, cho dù màu da, ngôn ngữ, văn hóa dân tộc có khác nhau đi nữa thì ai nấy cũng mong muốn mình có một cuộc sống thuận lợi, ấm êm và hạnh phúc. Đó chính là cuộc sống của người vốn đầy đủ phước đức, trí tuệ mà đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta đã chỉ dạy.

Tìm hiểu thực tế nơi con người, chúng ta cảm nhận rằng: Do nghiệp khác nhau, nên mỗi người có thân tướng, tâm hồn và sự sống chẳng đồng nhau. Từ đó, có hiện tượng kẻ xấu người đẹp, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, kẻ trí người ngu, kẻ khổ đau người hạnh phúc. Tất cả đều từ gieo nhân – thọ quả của mỗi người. Nếu con người muốn hiện đời này và đời sau thọ hưởng quả báo tốt đẹp thì phải làm điều thiện, điều tốt, hay có thể gọi là gieo bòn phước đức.

Chúng ta thường nghĩ cạn cợt rằng: “Đem của cải cho người là hết” nhưng thật chẳng phải vậy. Chính của mà dùng để ăn xài, hưởng thụ cho bản thân mình thì hết, còn của cho là của để dành. Của để dành này trở thành phước rồi chiêu cảm những quả tốt về sau cho chúng ta.

Cho là còn, có mất đâu,

Gieo nhân hái quả cũng thâu về mình.

Tất cả của cải vật chất ở thế gian này, con người sẽ bỏ lại hết khi nhắm mắt tắt hơi, chỉ đem theo thiện nghiệp (phước đức) và ác nghiệp (tội lỗi). Thấy như vậy, quí Phật tử phải có cái nhìn sáng suốt để chọn cho mình cuộc sống hiện tại và tương lai như thế nào, tốt hay xấu được quyết định từ những việc làm hàng ngày của chúng ta ngay bây giờ. Việc thường xuyên gieo trồng nghiệp tốt, không làm điều ác chuẩn bị cho hiện đời và vị lai thọ hưởng quả báo an lành hạnh phúc là rất cần thiết, chớ nên xem nhẹ.

Trước tiên, chúng tôi sẽ lược nói về thế nào là người có phước đức.

Người đủ ăn, đủ mặc,

Là người có phước đức,

Hằng ngày ít bực bội,

Nhờ vậy mà dễ tu.

Người có sự sống ổn định, nhà cửa, tiền của ăn ngon mặc ấm, may mắn, phương tiện vật chất đầy đủ và sống trong bầu không khí gia đình ấm êm là người có phước đức. Trái lại, người luôn phải sống trong cảnh thiếu thốn cơm ăn, áo mặc, tiền bạc, tiện nghi sinh hoạt và trong gia đình lại thường hay gây gỗ, chửi mắng nhau, ai cũng cảm thấy nặng nề, chán chường, mệt mỏi vì phải sống thì đó gọi là người kém phước.

Trong dân gian, người có phước thường được nói là người được thời, hay người được Trời thương. Cái phước hay còn gọi là cái thời. Thời vận tốt chính là kết quả từ cách sống tốt trước của người này nên đã chiêu cảm những yếu tố thuận lợi cho công việc làm của anh ta nhanh chóng thành công, mà chúng ta thường nói là “ làm chơi ăn thiệt”, và thêm nữa là các mối quan hệ trong gia đình được thuận hòa, êm ấm, sự sống ổn định. Một người không có phước thì không thể hưởng quả như vậy.

Nếu chúng ta không làm phước mà muốn có phước thì không thể được. “Làm phước thì có phước, hưởng phước sẽ hết phước”. Xác định điều này, mỗi Phật tử phải nên có gắng tập gieo bòn phước đức hành ngày, vì sống có phước đức thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

Sau đây, chúng tôi sẽ hướng dẫn cho quí vị cách để gieo bòn phước đức.

Hãy xa rời nghiệp ác,

Hãy phát triển hạnh lành,

Trở thành con người tốt,

Trí đức đều vẹn toàn.

Việc thiện dù nhỏ cũng phải cố gắng làm. Như giọt nước nhỏ rỏ vào lu, lâu ngày sẽ làm đầy lu nước. Những việc có lợi cho mình và cho người thì nên làm, còn những việc có lợi cho mình mà hại người thì không nên làm.

Việc ác cũng thế, dù nhỏ chúng ta cũng không nên làm. Ví như lỗ thủng nhỏ trên thuyển, nếu không bít kín lại thì đến một lúc nào đó sẽ nhận chìm cả con thuyền lớn.

Như vậy, chúng ta phải gieo bòn phước đức như thế nào? Phật đã dạy pháp Bố thí là hạnh thù thắng cho việc này, người thực hiện pháp này sẽ chuyển tham, sân, si nơi thân tâm của mình thành thiện nghiệp đầy phước báo an lạc và hạnh phúc.

Phật dạy pháp bố thí,

Giúp ta gieo bòn phước,

Giúp ta bỏ tham sân,

Để an vui giải thoát.

  1. Bố thí là gì?

Bố thí là cùng khắp,

Thí là dâng tặng cúng,

Dâng, tặng, cúng cùng khắp,

Gọi là hạnh bố thí.

Con người do có lòng tham không đáy nên tạo gây tạo nhiều đau khổ cho nhau nên cứ mãi sống trong tâm trạng bất an, dễ tỵ hiềm, hay thù hận. Vì vậy phải tập bố thí, chính là thể hiện sự cảm thông chia sẻ với cái khó của người chung quanh, bớt lòng vị kỷ tăng lòng thương người, làm lợi ích cho con người, từ đó tánh tham lam nhẹ dần, những ích kỷ, tật đố nhỏ nhen ít có cơ hội tăng trường v.v…

Biết rõ gốc nghèo khổ,

Từ keo kiệt mà ra,

Muốn không sầu, nghèo oán,

Hạnh bố thí cần chuyên.

Một vị A La Hán trên đường đi gặp một bà già nghèo. Bà đã than thở rằng:

  • Bạch Đại Đức ! Con đã già rồi mà cơm không đủ no, áo không đủ mặc, sự sống nghèo khổ quá.

Vị A La Hán nói rằng:

  • Cái khổ này có nguyên nhân, bây giờ bà hãy bán cái nghèo đi thì sẽ hết nghèo khổ.

Bà già ngạc nhiên hỏi:

  • Cái nghèo khổ làm sao bán được? Nếu có người mua con sẽ bán.
  • Tôi đồng ý mua. Bà hãy bán cái nghèo bằng cách bố thí, cúng dường.
  • Con nghèo quá làm sao có tiền để bố thí, cúng dường.
  • Không phải giàu có mới bố thí được. Bố thí vì lòng thương đối với mọi người, bố thí để diệt trừ cấu uế của tâm bỏn xẻn. Bằng sự dụng tâm chân chính thì quả lành sẽ đến với bà.
  • Vậy Ngài hãy dạy con cách bố thí.
  • Bà hãy bước ra bờ sông múc một chén nước đem về đây, bằng sự thành tâm cúng dường, bà sẽ bán được cái nghèo.

Nghe lời chỉ dạy, bà già nghèo đi lấy nước đem về cúng dường cho vị La Hán với tấm lòng hoan hỷ, chân thật và thành kính.

Sau khi cúng dường xong trở về nhà. Mấy hôm sau bà qua đời.

Do công đức cúng dường y như pháp chiêu cảm quả báo tốt, bà được sanh về cõi trời. Ở cõi trời có thần thông, bà dùng thiên nhãn nhìn lại xác chết của mình thấy quá tồi tàn. Còn hiện tại mang thân tiên nữ trẻ đẹp an vui, cảm nhận công đức cúng dường bà tiếp tục lập hạnh bố thí để phước đức tăng trưởng.

Đây là câu chuyện đơn giản mà sâu sắc. Con người khi sinh ra có sự bất đồng về giàu nghèo sang hèn, đẹp xấu… Đây là do chúng ta đời trước làm lành hay làm ác mà thọ quả tốt xấu khác nhau. Vì vậy, người biết được lẽ này sẽ không oán trách người hay tự dằn vặt mình mà cố gắng cả đổi vận mệnh, tập sống có ý nghĩa để tăng trưởng phước đức, thoát cảnh cơ cực.

Phương tiện để gieo bòn phước đức là phát tâm bố thí. Làm được mười đồng chỉ tiêu xài khoảng hai, ba đồng, còn lại để dành hoặc tập bố thí. Đem tiền bạc, của cải bố thí, giúp đỡ những người khốn khó là cách cất giữ của cải khôn khéo nhất. Vì sao vậy? Đó là chúng ta đang gởi tiền vào ngân hàng “nhân quả” rất an toàn, bảo đảm, để rồi một ngày nào đó khi hữu sự cần đến sẽ chiêu cảm phước đức cho ta đầy đủ những điều kiện thuận lợi thành tựu mọi việc. Nếu làm có được bao nhiêu tiêu xài hết bấy nhiêu thì làm sao có tiền để gởi ngân hàng, làm sao sự sống có hậu. Vậy ngay hiện tại hãy thường xuyên bố thí, gieo bòn phước đức để tương lai hưởng quả tốt đẹp.

Bố thí là ruộng phước của nhân loại, người có tâm bố thí là tập cho mình có đời sống cao thượng sống có tương lai. Do bố thí nên đã gởi tất cả những của cải trên cánh đồng phước lành, và coi như của cải ấy được giữ gìn mãi mãi. Hơn nữa chúng ta là những người tu học theo hạnh của đức Phật, thấy người khổ cũng như mình khổ, phải tìm cách cứu giúp họ. Làm sao cho mọi người hết khổ, được vui, giải thoát khỏi sanh tử luân hồi là tâm nguyện của chư Phật và cũng là người con Phật chúng ta. Mạng sống ngắn ngủi, của cải là giả tạm, chúng ta phải biết tận dụng thời gian, của cải để làm lợi ích cho con người theo tinh thần vô ngã, vị tha mà đức Phật đã dạy.

Vì thương người mà thí,

Vì hy sinh mà thí,

Vì bổn phận mà thí,

Vì giác ngộ mà thí.

Phước đức là nhu cầu cần thiết trong sự sống của con người. Nếu đem phước thì đời sống vất vả, phiền muộn. Cái phước này không ai ban cho ta, tự ta gieo bòn và hưởng lấy mà thôi.

Bố thí là hạnh gieo bòn phước đức thù thắng nhất, bố thí có bốn loại là: Tài thí, pháp thí, vô úy thí và bố thí bất nghịch ý.

  1. Tài thí:

Vật thực mình làm ra,

Khi thấy người thiếu hụt,

Dâng tặng cúng cho người,

Được gọi là tài thí.

Tài thí là dùng tài sản, vật dụng giúp đỡ cho những người nghèo đói, thiếu thốn, đau yếu.

Trong tài thí có ngoại thí tài và thí nội tài.

Như thức ăn, đồ mặc,

Tiền, xe, ruộng, nhà cửa,

Dâng tặng cúng cho người,

Là hạnh thí ngoại tài.

Tiền bạc, vật chất của mình làm ra khi thấy người đang đau khổ, thiếu hụt đem bố thí cho người là thí ngoại tài.

Một người từ xa đến ta mời một ly nước uống cho đỡ khát, hay dọn một bữa cơm ăn cho đỡ đói là bố thí đúng chỗ, sẽ có phước đức.

Tất cả Phật tử ở xa khi đến chùa, Thầy thường nhắc nhở trong chúng ta phải tiếp đón ân cần. Người Phật tử đến chùa vì Tam Bảo, vì cầu pháp mà đến, nhiệm vụ của Thầy và chúng phải tiếp rước. Khi mới đến thì rửa mặt, lau mặt cho khỏe rồi uống nước, dùng cơm. Còn chuyện tìm hiểu đạo lý, thỏa mãn thắc mắc nơi nội tâm thì tâm sự sau. Căn bản ban đầu là tạo cho thân tâm khỏe khoắn, bình an. Hành động đó không tốn tiền, nhưng thắm đượm nghĩa tình là có phước đức. Những hành động đơn giản, bình thường nếu chúng chịu làm là tập sống có ý nghĩa, có phước đức.

Mỗi tuần, mỗi tháng kiểm tra lại số tiền kiếm được, hành giả hãy nhìn lại công sức mình đóng góp cho người và xã hội. Nếu thấy sự đóng góp nhiều hơn chúng ta có quyền nở một nụ cười vui vẻ vì biết rằng mình đang tích lũy phước dần dần theo năm tháng. Ngược lại, nếu thấy mình không làm được lợi ích gì cho xã hội mà kiếm tiền được quá nhiều, hãy lo lắng hơn là mừng rỡ, nên phải tìm cách cúng dường, bố thí, gieo bòn phước đức, chuẩn bị cho tương lai.

Khi bố thí cúng dường, vật chất và tinh thần phải song đôi. Phẩm chất cúng dường phải gói kèm với tâm chân thành, hoan hỷ, phước đức mới thù thắng vi diệu.

Một thời đức Phật ở nước La-Duyệt-Kỳ tại núi Kỳ-Xà-Quật, lúc bấy giờ vua A-Xà-Thế thỉnh đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, đức Phật trở về tịnh xá Kỳ Hoàn. Vua bèn hỏi Kỳ-Bà rằng : Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì? Kỳ Bà nói rằng: “Ngài nên đem dầu đèn để cúng dường Phật. Vua liền sai chở một trăm thùng dầu về tịnh xá Kỳ Hoàn”.

Một bà giào nghèo, với tâm chí thành muốn cúng dường đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A-Xà-Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà xin được hai tiền, liền đi mua dầu. Chủ quán hỏi: Bà nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu? Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được gặp. Tôi may mắn ra đời gặp Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bổn cho đời sau”.

Nghe vậy, người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nữa đêm, bà phát nguyện rằng: “Nếu như sau này tôi chứng đạo vô thượng như đức Phật thì ngọn đèn này sẽ đỏ suốt đêm và sáng tỏ khác thường”. Phát nguyên xong bà lễ Phật rồi về.

Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn tỏ, tuy có người săn sóc nhưng vẫn không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Trời sáng, đức Phật bảo Ngài Mục Kiền Liên rằng: “Trời đã sáng, hãy tắt các ngọn đèn”. Mục Liên vâng lời, thứ lớp tắt đèn, nhưng riêng ngọn đèn của bà lão nghèo thổi ba lần không tắt, sau lấy áo cà sa mà quạt, ngọn đèn lại đỏ rực hơn. Đức Phật bảo rằng: “Hãy dừng lại, ngọn đèn đó là hào quang công đức của một vị Phật tương lai, không thể lấy thần thông của người mà diệt trừ được”.

Vua A-Xà-Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chi thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”.

Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm tuần nhất thành kính của bà kia đối với đức Phật”.

Đem sức lực mình có,

Công quả giúp chúng sanh,

Được ích lợi an vui,

Là hạnh thí nội tài.

Có nhiều cách tạo phước như đắp đường, xây cầu, tạo thuận tiện cho việc giao thông đi lại. Trồng cây hai bên đường, có bóng mát cho người đi đường, bảo vệ môi trường, tạo không khí trong lành ảnh hưởng tốt cho sức khỏe con người. Phật tử đi lấy thuốc nam cung cấp cho phòng thuốc từ thiện để bố thí cho bệnh nhân nghèo. Những vị lương y bốc thuốc, cạo gió, giác hơi, tận tụy phục vụ bệnh nhân v.v… Những công việc đó càng làm càng có phước.

Phật tử thường xuyên về chùa niệm Phật cũng là tạo phước đức.

“Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng

Lễ Phật một lễ tội diệt hằng sa”

Đủ mọi cách để gieo bòn phước đức nếu chúng ta chịu làm phước, bố thí.

Một người biết tạo phước là người “đóng góp nhiều hơn hưởng thụ”. Luôn nghĩ đến lợi ích của chúng sanh và làm việc nhiệt tình, hơn là chỉ nghĩ đến lợi lộc cá nhân. Hãy bố thí thế nào mà chúng ta càm thấy sự đóng góp của mình đối với xã hội luôn luôn cao hơn quyền lợi thu về, được như vậy chúng ta sẽ có phước lớn về sau. Còn những kẻ chỉ muốn hưởng thụ tối đa với công sức bỏ ra, trước mắt họ có vẻ giàu sang, nhưng tương lai họ sẽ là người khốn khổ vì tổn phước. Có phước không biết tiết kiệm thì phước cũng hết thôi. Có một câu rất hay mà Phật ử cần nên nhớ:

Nghèo hèn sanh tiết kiệm,

Tiết kiệm nên giàu có,

Giàu có sanh kiêu sa,

Kiêu sa nên nghèo hèn.

Biết tạo phước, phải biết tiết kiệm phước để lúc nào cũng sống có phước.

Khởi đầu hạnh bố thí,

Bằng tấm lòng thương xót,

Đem vật mình có dư,

Dâng cho kẻ thiếu hụt.

Khi thấy người đang thiếu thốn, khó khăn, chúng ta phải khởi lòng thương người. Những vật mình có dư đem giúp đỡ cho người. Hạnh bố thí là san sẻ, có san sẻ mới có tình thương và tăng trưởng phước đức.

Những gì ta đang dùng,

Người khác dùng lợi hơn,

Ta sẵn sàng dân hiến,

Với tấm lòng hoan hỷ.

Hiện tại chúng ta phải cố gắng gieo bòn từng chút phước. Có nhân thì có quả. Nếu gieo nhân ác thì phải gánh lấy quả ác. Nếu gieo thật nhiều nhân phước đức thì tương lai tốt đẹp cho chúng ta.

Những gì ta đang dùng mà thấy người khác sử dụng có lợi ích hơn, có kết quả hơn thì nên hiến tặng. Cũng như thầy mua một cuốn sách nói về những cây thuốc để trị bệnh, thấy khả năng mình chưa đủ, thầy tặng lại cho một vị lương y làm việc trong phòng thuốc từ thiện, để vị lương y này có phương tiện nghiên cứu, tìm tòi những kinh nghiệm để trị bệnh cho những bệnh nhân nghèo. Nhờ cuốn sách này mà chữa bệnh cho một trăm người, một ngàn người thì phước đức của mình cũng có trong đó.

Bố thí đúng chỗ, đúng đối tượng có lợi ích cho đông đảo con người thì phước sẽ vô cùng tận. Một xóm làng thiếu nước, chúng ta khoan một cái giếng nước để có nước cho dân làng tiêu dùng, một trăm người xài nước, một ngàn người xài nước, nước giếng được con người tiêu dùng mãi mãi Phước đức của người khoan giếng theo thời gian tăng trưởng rất lớn. Chúng ta đóng góp công của ngưởi xây dựng một ngôi chùa, ngôi chùa đó có hàng trăm hàng ngàn người đến nương tựa để tu học, phát triển tâm linh giác ngộ thì phước đức rất lớn. Còn nếu xây dựng để phục vụ quyền lợi riêng tư của cá nhân không phải phục vụ cho số đông, ngôi chùa đó “lạnh ngắt”, thì phước rất yếu bởi tác dụng phục vụ yếu. Vì vậy khi làm phước phải xác định rõ việc làm của mình để đầu tư đúng chỗ. Việc làm tuy ít nhưng kết quả cao.

Kho bố thí cho người,

Mặt, thân tâm vui vẻ,

Cảm ơn người thọ chí,

Chẳng cần cầu đáp chí,

Người nhận của bố thí,

Hoan hỷ vì được của,

Người thí mừng vui hơn,

Vì gieo được phước lành.

Việc bố thí muốn kết quả bền vững tốt đẹp, hành giả hãy chấm dứt sự suy nghĩ về việc biết ơn và bội ơn, mà lấy sự bố thí làm niềm vui nội tâm. Đem của cải bố thí cho mọi người mà không hối tiếc, chẳng cầu danh vọng, chẳng cầu lợi dưỡng mà chỉ muốn làm lợi ích cho con người, giúp con người lìa khổ được vui. Bố thí cho người ta phải cám ơn và tôn trọng người thọ thí, vì nhờ người mà ta có được phước lành. Bố thí không điều kiện, làm phước không vụ lợi, tâm chúng ta trải rộng thênh thang, vui vẻ và an lành. Bố thí có điều kiện, nhận phẩm vật bố thí nặng nề lắm, giống như một sự đổi chác. “Thi ân bất cầu báo”. Vật cho đi, không mong lấy lại, làm phước không cầu đền đáp.

Khi bố thí giá trị phẩm vật mà phong cách con người cần hoàn hảo viên dung.

Phát tâm nào bố thí,

Tùy nhân quả đó cảm,

Như vì vui mà thí,

Sau ắt đặng an vui.

Đem tiền tặng cho người bằng tâm vui vẻ, sau này người khác đem tiền tặng cho ta cũng bằng niềm vui. Cầm tiền cho người bằng tâm buồn phiền thì người khác cầm tiền cho mình cũng như vậy. Khi bố thí chúng ta cần phải biết rõ điều đó.

Bổn phận làm con phải báo đáp công ơn cha mẹ. Cha mẹ còn sống ngày nào tùy theo khả năng, hoàn cảnh của chúng ta cung cấp thức ăn vật uống, có gì dâng nấy, dù ít hoặc không cao lương mỹ vị nhưng với tấm lòng thành kính chăm sóc, sẽ làm cho cha mẹ vui hơn là mâm to cỗ đầy mà thiếu sự quan tâm, thiếu sự lễ phép.

Khi bố thí, dù là người xin ăn ta cũng phải tôn trọng và thành tâm mới có phước đức. Còn cho mà khinh rẻ, mạt sát sẽ có quả báo về sau.

Với phẩm vật bố thí, cúng dường chúng ta nguyện cầu Tam Bảo thường còn, chúng sanh lợi lạc thì phước đức tốt đẹp, bền vững. Có những nười bố thí rất nhiều, nhưng sau đó rơi vào hiện tượng “làm ơn mắc oán” bố thí không thấy phước mà chỉ thấy phiền não. Lý do là bố thí mà mong cầu danh lợi mong cầu quả báo, không lượng sức mình hoặc thiếu trí tuệ.

Hôm nay có người bạn đến mượn một triệu xét lại trong túi chỉ có một trăm ngàn. Chúng ta chỉ có thể tặng cho người bạn một trăm ngàn đó. Còn việc cho mượn một triệu là ngoài khả năng, không thể giúp đỡ được, mong bạn hoan hỷ. Nếu mình đi mượn một triệu để giúp cho người bạn, số tiền đó nếu không hoàn trả lại thì mình phải gánh số nợ, để rồi phải bực tức, trách hờn, thì phước không chỉ thấy phiền não.

Đem tài sản như nhau,

Bố thí cho một người,

Vì dụng tâm không đồng,

Nên kết quả sai khác.

Ngày xưa, tại địa phương nọ thuộc Ấn Độ có ngọn núi Ảm Sơn, nơi đây tập trung nhiều vị tu hành và được người dân rất kính mộ. Một hôm, có một vị trưởng giả đem người nhà lên núi thiết trai cúng dường. Trong thôn đó, có một cô gái nghèo độ tuổi 17, 18 đi ăn xin để sống qua ngày, hay tin này một bữa no bụng. Khi thấy cỗ chay của ông Trưởng tinh khiết, thì trong bụng cô nghĩ: “Kiếp trước chắc hẵn vị trưởng giả này dày công tu nhân tích phước nên ngày nay mới được giàu có, và ông ấy sau của ông còn nhiều nữa. Ngẫm lại thân ta thật đáng thương! Chỉ vì kiếp trước không biết tu tạo phước lành nên bây giờ mới chịu cảnh bần cùng thế này. Nếu giờ đây ta không lo tu tạo phước đức thì kiếp sau chắc còn nghèo khó gấp mấy! Cô mốc trong túi ra chỉ có hai đồng tiền, biết rằng hai đồng tiền này có thể mua được hai cái bánh ăn tạm khi đói lòng, nhưng cô xét nghĩ: Nếu ta đem cúng dường các vị tu hành nơi đây thì ta cũng không đến nỗi chết kia mà. Nghĩ rồi, cô gói hai đồng tiền lại, đợi các vị Tăng ni cùng trai xong cung kính cúng dường. Theo quy tắc của chùa, nếu ai bố thí cúng dường thì chỉ có vị sư tri khách đứng lên thay mặt Chư tăng hồi hướng chúc phúc cho thí chủ. Nhưng lần này, cô gái nghèo lại được chính sư trụ trì thân hành ra trước mặt cô mà chúc phúc rằng: “Tất cả bảo vật trên thế gian này đều ở trong phẩm vật mà người đồng nữ này bố thí cho kẻ xuất gia. Việc cúng dường này vị cầu phước báo. Vậy bần tăng chúc cho thí chủ vĩnh viễn lìa khỏi nghèo khó”. Cô gái nghe xong trong lòng không thể kể xiết nỗi niềm hân hoan. Sau khi rời khỏi chùa, cô tới dưới một gốc cây cổ thụ nằm nghĩ và ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khi vầng dương xế bóng, có một đoàn người rầm rộ đi đến, thấy bóng cây vẫn không thay đổi, và trên đỉnh cây cao lại có một đám mây ngũ sắc như tàn lọng che cho cô gái khác nào tiên nữ hiện xuống trần. Mọi người lấy làm kinh ngạc, vị Quốc vương chủ đoàn đã nhìn thật lâu và nhận ra đó là một cô thiếu nữ tuy lắm lem nhưng có một thân hình mảnh mai, vẻ mặt xinh tươi đem lòng yêu mến và Ngài đã cưới cô làm vợ. Từ đó, nàng trở thành Hoàng hậu có đầy đủ quyền uy, giàu sang và hạnh phúc.

Một ngày nọ, Hoàng hậu cùng tùy tùng cúng dường nơi ngôi chùa cũ và chở theo một xe tiền. Sau khi các vị Tăng thọ trai xong, đến lúc chúc phúc cho thí chủ thì vị sư tri khắc thân ra, không thấy vị sư trụ trì như lần trước. Hoàng hậu ngạc nhiên hỏi rằng: Ngày trước, ta chỉ bố thí có hai đồng mà sư trụ trì ân cần tiếp rước. Còn bây giờ, ta cúng dường tiền bạc nhiều như vậy sao sư trụ trì không đoán nhận? Đại chúng cũng đều thắc mắc như vậy. Thấy mọi người xôn xao, vị sư trụ trì liền vân tập đại chúng và khai thị rằng: Ngày trước, tuy Hoàng hậu cúng dường chỉ có hai đồng nhưng là cả một gia tài lúc ấy với tâm thành chí cao, khả quí. Còn bay giờ vật thí thì rất nhiều nhưng với tâm khác hơn không như ngày trước. Nên biết rằng Phật pháp không trọng “lượng vật chất” mà trọng ở tấm lòng phát tâm.

(Lược trích truyện Phận đẹp duyên mây, trong bộ truyện cổ Phật giáo tập 2, do Minh Chiếu sưu tập).

Khi cúng dường Tam Bảo, hay giúp đỡ tiền bạc của cải cho ai thì giá trị vật chất và giá trị tinh thần phải xong đôi. Nếu khuyết một mặt thì kết quả không được thù thắng.

  1. Pháp thí:

Pháp thí là công đức quan trọng trong Phật pháp. Hoặc tự mình đã thông đạt giáo pháp rồi nói lại cho người khác nghe, hoặc thuật lại lời dạy của các bậc giác ngộ, hoặc đưa kinh sách cho người xem đều gọi là pháp thí.

                             Dịch kinh, ấn tống kinh,

                             Cho mọi người xem hiểu,

                             Hoặc thuyết pháp độ người,

                             Gọi là bố thí pháp.

Pháp thí có rất nhiều cách: Tặng cho người một cuộn băng, một quyển kinh, một lời nói đạo đức… pháp thí công đức rất lớn.

                             Nếu người giàu trí tuệ,

                             Hãy siêng bố thí pháp,

                             Giáo hóa cho chúng sanh,

                             Được ích lợi an vui.

Pháp là chân lý, là lời dạy phù hợp lương tâm, đạo đức, và trí tuệ nơi con người. Người nghe được giáo pháp sẽ bỏ ác theo thiện, bớt si mê, thêm trí tuệ. Những đạo lý thánh thiện này sẽ đi sâu vào tìm thức, chỉ đạo hành vi và ngôn ngữ khiến chúng sanh lần lần trở nên thánh thiện.

Bố thí pháp là đem giáo pháp của đức Phật mà giảng dạy cho chúng sanh. Chúng sanh đang chìm trong vô minh, che lấp trí tuệ. Do si mê, tham ái nên chìm đắm trong luân hồi sanh tử “Lấy pháp Phật rửa sạch trần tâm”, hành trì chánh pháp để tưới tẩm hạt giống, thấm nhuần mưa pháp nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề nơi tâm chúng sanh để ngày nào đó ra hoa giác ngộ, trổ quả giải thoát.

                             Kính lạy pháp: thuyền từ phổ độ,

                             Đưa người ra biển khổ mênh mông,

                             Giúp con sống trọn tấm lòng,

                             Thương yêu tỉnh thức giữa vòng tham sân…

Pháp thí lợi ích lâu dài và công đức lớn lao. Làm cho con người biết rõ lẽ thật cuộc sống, hiểu rõ nhân quả nghiệp báo nên bỏ điều tội làm điều phước, nhàm chán ngũ dục, xa lìa trần cấu, dứt các phiền não trong hiện tại, tinh tấn đạt đến “chân, thiện, mỹ” rốt ráo thành Phật.

                             Pháp thí dứt phiền não,

                             Pháp thí phá ngu si,

                             Pháp thí khai trí tuệ,

                             Pháp thí pháp không lường

Pháp thí là những lời nói đạo đức, từ hòa. Người Phật tử phải thấm nhuần chân lý Phật đà để nói lời ngay thật, hòa nhã vui tươi, đạo đức hiền từ khiến cho con người yêu thương nhau. Giá trị của con người là lời nói. Hãy dùng lời nói tốt đẹp để pháp thí cho nhau. Phải biết kết hợp lời nói vào mục đích thánh thiện đem lại lợi ích cho mình và mọi người.

                             Miệng ta là cánh hoa sen,

                             Một khi hé nở, một phen thơm lừng,

                             Tiếng ta là gió mùa xuân,

                             Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.

Lời nói là nơi xuất phát những suy tư, ý nguyện của mình, đồng thời nó cũng là nguồn gốc của bao tai họa đau khổ. Lời nói rất quan trọng, một khi thốt ra phải suy nghĩ cân nhắc kỹ càng. “Nói mà không suy nghĩ có khác nào bắn mà không nhắm vào mục tiêu”. Tại sao cũng là con người mà lời nói có giá trị khác nhau? Lời nói có giá trị là lời nói chân thật có ý nghĩa và lợi ích. Lời nói không có giá trị là lời nói gian dối, hổn ẩu, hung ác… “Hãy tu nơi cái miệng”. Nếu lời nói của ta không đem lại sự lợi ích nào cho bản thân và mọi người nên im lặng. Có khi một lời nói làm người khổ hai tháng, có khi một lời nói là người chết luôn. Tội lỗi ghê lắm! Nên có câu.

                             Hoa tai vì miệng mà nên,

                   Bệnh căn vì miệng mà rên phù trầm.

Họa từ cái miệng, phước cũng từ cái miệng. Có những người khi họ nói ra điều vì mọi người đồng hưởng ứng nghiêm túc thực hành. Đây là do lời nói có phước mà tác thành kết quả cũng có những con người nói “rát cổ họng” mà không có ai nghe. Lúc đó đừng trách người, buồn mà hãy tự trách mình. Vì phước đức còn yếu nên lời nói còn nhẹ cân quá.

Pháp thí là dùng lời nói hòa nhã, dịu dàng, từ ái mà an ủi, khuyên lơn, khiến cho muôn loài sinh lòng thương mến, cảm phục rồi từ đó mà theo ta học đạo. Vậy người Phật muốn cảm hóa dẫn dắt người chung quanh về con đường chân chánh, thì trước tiên áp dụng cho được pháp thí. Nghĩa là luôn luôn trong mọi trường hợp phải dùng lời ôn hòa nhã nhận, khiêm tốn khi tiếp xúc với mọi người. Nhất là khi con người đang ở trong cảnh khổ thì những lời khuyên lơn vỗ về vô cùng quý báu, vì có thể xoa dịu vết thương lòng làm cho người ta vô cùng cảm kích “lời nói khó quên, giá trí khôn cùng”.

                             Công dụng thí tài sản.

                             Trừ nghèo nàn vật chất,

                             Công dụng thí chánh pháp,

                             Giải thoát khổ tâm hồn.

  1. Vô úy thí:

Dùng oai lực hộ trì, khiến người không lo sợ, khiến người tâm an ổn là hạnh thí vô úy. Không làm hoang mang, lo lắng, sợ hãi thường trấn an tâm hồn tạo sự bình an cho con người là hạnh thí vô úy.

                             Người sống trong cõi đời,

                             Chỉ toàn sợ và sợ,

                             Sợ thiếu ăn, thiếu mặc,

                             Sợ sanh, già, bệnh, chết,

                              Bao thứ sợ chồng chất,

                             Phủ lên đầu chúng sanh,

                             Bồ tát thấy thương xót,

                             Thí vô úy cứu người.

Giàu sợ tài sản bị trộm cướp, nghèo sợ đói không đủ cơm ăn áo mặc… Một ngày có biết bao cái sợ chồng chất nơi tâm hồn chúng sanh. Mỗi khi lo sợ điều gì hãy niệm Phật để giảm bớt lo sợ “Nam mô Đại từ Đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

                             Quan Thế Âm Bồ Tát,

                             Đầy đủ ba món pháp thí,

                             Năng cứu khổ, cứu nạn,

                             Cho tất cả chúng sanh.

Quán Thế Âm Bồ Tát là vị Bồ Tát có lòng từ bi vô lượng. Hạnh nguyện của Ngài là cứu độ chúng sanh thoát khỏi hoạn nạn, tai ách. Chúng sanh thường niệm hồng danh Quan Thế Âm Bồ Tát không còn sợ sệt, hãi hùng.

Lo sợ làm cho tâm mệt mỏi, thiếu sáng suốt thiếu nghị lực, trầm tĩnh, trấn an nội tâm thì khôn khéo, sáng suốt trong mọi công việc.

“ Hãy thí vô úy để đem lại an lạc nơi tâm hồn chúng sanh”.

Hạnh bố thí công đức không cùng tận là bố thí Ba la mật.

                             Hạnh bố thí thù thắng,

                             Vĩ đại như không gian,

                             Là kho báu vô tận,

                             Để thành tựu pháp thân.

Bố thí Ba la mật là hạnh bố thí với tâm thanh tịnh, bất động, không còn ngã nhơn. Bố thí không vu lợi “ thi ân bất cầu báo”, giúp đỡ mà không có điều kiện, không cần đền đáp thì phước đức không cùng tận.

                             Thí với tâm bất động,

                             Là thí bất tư nghì,

                             Người nhận và người cho,

                             Điều an vui giải thoát.

  1. Bố thí bất nghịch ý:

Tột cùng hạnh bố thí,

Là bất nghịch ý người,

Người cần dùng thứ gì,

Ta hiến dâng thứ đó.

Đây là hạnh bố thí của Bồ tát. Tiền thân đức Phật là Thái tử Tu-Đài-Noa lập hạnh Đại thí bất nghịch ý, buông xả ngã chấp và ngã sở để cứu đạo vô thượng.

Ngài xin vua cha thí tiền bạc, vàng ngọc, có người đến xin, Ngài thí luôn con voi trấn quốc.

Quần thần trình vua, vua đày thái tử lên núi. Trên đường lên núi thái tử thí ngựa, xe, quần áo của mình và vợ con. Đến ở nơi núi Ngài thí luôn cả vợ con. Vượt qua bao cơn thử thách, cuối cùng Ngài tròn hạnh nguyện.

Câu chuyện này nhìn vào hơi nghịch lý, vì Thái tử hơi nhẫn tâm, nhưng đây là hạnh nguyện của Ngài. Và quyến thuộc hy sinh, trợ duyên để Bồ tát thực hành hạnh nguyện buông xả ngã sở, ngã chấp để thành tựu pháp tu vô ngã, vô sở cầu. Đây là hạnh tu của người trí, vi diệu bất tư nghì, phàm tực khó hiểu nổi.

Mục tiêu của hạnh bố thí bất nghịch ý là chuyển hóa bản ngã, sở hữu ngã, buông xả sự tham đắm để thanh tựu quả vị Phật. Còn ngã còn sở hữu ngã là còn lòng tham, làm sao thành Phật. Chúng ta vì còn lòng tham nên bố thí không hết. Trong túi có ba chục ngàn đồng để dành. Vì còn ngã, còn chấp, còn sợ đói nghèo nên chưa bố thí mạnh dạn. Còn Bồ tát khác hơn, các Ngài cảm nhận ngã là đáng ngại, nên phát nguyện buông xả chấp ngã sống đời vô ngã thể hiện qua hạnh thí Ba la mật, hạnh thí bất nghịch ý, không bảo thủ cho ta, không có gì là của ta nên không khổ vì ta và của ta.

Người đời vì có “tôi” nên phải khổ vì “tôi”. Trong mười bốn điều tâm niệm có nói “kẻ” thù lớn nhất của chúng ta chính là “ta”, tức cái ngã của mình làm khổ mình nhiều nhất.

                             Bởi bản ngã quá to,

                             Nên tham sân cũng bự,

                             Bản ngã xả được rồi,

                             Tham hận tự diệt tiêu.

Phần đông con người vì chấp ngã nên phiền não. Vì chấp ngã nên phải nô lệ vật chất để phục vụ cho bản ngã.

                             Nô lệ ít,khổ ít,

                             Nô lệ nhiều, khổ nhiều.

 Nếu khéo dụng tâm tu tập bố thí là hạnh lành giúp cho ta buông xả chấp ngã dễ dàng.

                             Giàu vật buông xả vật,

                             Kẹt thân buông xả thân,

                             Vọng niệm buông xả niệm,

                             Thí sạch mới được an.

Người có trí tuệ biết rõ thân này là đày ca thúi, rồi đây nó sẽ chết, nên không quý trọng thân, lo lắng cho thân mà phải lợi dụng nó, khi còn sống phải gieo bòn phước đức để khi mất đi còn được cái phước. Còn nếu cứ lo tạo nghiệp để phục vụ cho thân ăn sang, mặc đẹp, lo cho nó đủ đầy thì ngày nào nó mất đi để lại cho ta đống nghiệp, thật là đáng thương. Ngày nào còn sống ngày đó phải làm lợi ích, phước huệ song tu.

                             “Nay vui, đời sau vui,

                             Làm phước hai đời vui”.

Nếu biết sử dụng thân để làm việc thiện thì một ngày sống có phước, một năm sống có phước một đời sống có phước.

Người bố thí với dụng tâm chân chánh chính sẽ buông xả dễ dàng từ vật chất đến tâm hồn. Tâm nặng nề, mệt mỏi bởi làm việc nhiều, cố chấp nhiều, căng thẳng nhiều phải tập thư giãn buông xả để thân tâm được bình an. Nghĩa sâu của bố thí là buông xả, buông xả để không vướng mắc dính kẹt tự do vô ngại, không ngã, không sở hữu ngã sẽ không còn tham nhiễm, giận hờn. Vì giận hờn là làm khổ mình, làm khổ mình là có thương mình đâu. Vậy thương mình hãy tập buông xả, thường khoan dung, tha thứ và cởi mở. Càng rộng lượng bao dung càng hạnh phúc. Càng cố chấp thì tự làm khổ ta mà thôi. Buông xả để tâm nhẹ nhàng, hồn nhiên và hạnh phục.

                             Khi đến thì tay không,

                             Khi đi tay buông thả,

                             Chẳng đem theo được gì,

                             Nên thí xả tất cả.

Cuộc đời chỉ con số không, có gì cho ta phải luyến lưu. Khi sanh ra thì tay không, chẳng có gì dính thân, khi chết đi chẳng đem theo được gì, danh vọng, nhà cửa, tiền bạc, ruộng vườn,… cũng chỉ là con số không. Hãy tập bố thí để có phước đức, tạo cho ta tương lai an lành, tốt đẹp.

                             Nhờ thường xuyên bố thí,

                             Buông xả thân tâm vật,

                             Tham sân lần rơi rụng,

                             Cuộc sống mới an lành.

Muốn có sự sống tốt đẹp, phước đức cao vời cho mai sau thì ngay bây giờ phải tập gieo bòn phước đức. Xác định lập trường sống có lợi ích, sống có phước đức để đem niềm vui ấm áp cho ta và hạnh phúc cho tất cả mọi người.

                             “Người người làm phước thiện,

                             Nhà nhà làm phước thiện,

                             Chuẩn bị ngay hiện tại,

                             Để sống có tương lai”.

THUY VI

 

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top