Tin Tức & Sự Kiện / Phật Giáo & Đời Sống

Thấy Nhân Duyên

Hòa thượng Thiện Hoa dạy tôi rằng thầy còn trẻ, có điều kiện nên sang Nhật nghiên cứu cách tổ chức và quản lý của Phật giáo Nhật để ứng dụng cho Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, tôi sang Nhật, để tâm và học được cách tổ chức, quản lý Tăng Ni, tự viện của họ, nhận thấy cách làm của họ đơn giản, nhưng có hiệu quả. Trong khi cách làm của chúng ta quá phức tạp, nhưng hiệu quả không cao, là điều cần suy nghĩ.

Vì chúng ta tu và làm việc theo hướng tự do, đôi khi bất chấp tất cả, dẫn đến việc nhỏ không giải quyết được, trở thành việc lớn phải nhờ chính quyền giải quyết cũng không được. Điều này chúng ta nên suy nghĩ.

Vì có tổ chức, thì những gì không cho phép, chúng ta hạn chế trước, không cho nó phát sinh. Chúng ta biết rõ luật pháp ngăn những chuyện không đúng luật pháp Nhà nước và không đúng luật của người tu. Vì vậy, chúng ta sống tuân thủ luật pháp Nhà nước, thì không bị xét xử. Sống đúng tôn chỉ của Giáo hội, chúng ta được yên ổn.

Mùa an cư, Hòa thượng Thiền chủ dạy Quy Sơn cảnh sách rất thích hợp. Vì chúng ta bị vật chất lôi cuốn, làm tâm linh bị mờ, đến già yếu, bệnh hoạn, hốt hoảng, vì chưa có định hướng về đâu.

"Tùng tư thỉ tri hối quá, lâm khát quật tỉnh hề vi! Tự hận tảo bất dự tu, niên vãn đa chư quá cữu …”. Câu này nhắc nhở tôi mỗi lần có sự thay đổi, tôi thường đọc lại. Sợ chết không biết về đâu, nên việc chuẩn bị điều này đối với tôi quan trọng.

Dù hoàn cảnh khó khăn, hay thuận lợi, chúng ta luôn nhớ rằng khi chưa có định hướng rõ ràng, phải nỗ lực tu. Nhưng nỗ lực tu, mỗi ngày đạo đức chúng ta phát triển, lúc đó, không cần cuộc sống vật chất, mà vật chất không bao giờ thiếu, hay không thiếu đối với người không có tham vọng.

Ngày xưa, Hòa thượng Thiện Tường làm Hóa chủ, cuộc sống vật chất quá thiếu thốn, nhưng vì ngài không có nhu cầu vật chất, không có tham vọng, nên chư Tăng cũng vậy. Ngày nay, quý vị tiếp nối đạo hạnh của ngài, cũng phải như vậy.

Riêng tôi, thực tập pháp này, cảm nhận cuộc sống của mình bao giờ cũng dư; nói cách khác, hạ mức cầu xuống bằng không, tức vô tham thì không bao giờ cảm thấy thiếu. Chúng ta hạ mức cầu xuống, không phải không cần, nhưng hạ lòng tham là hạ mức cầu, hạ đòi hỏi. Phải nhiếp tâm tu, vì càng lo, càng tính, càng thua thiệt. Hạ mức cầu bằng không, lúc nào cũng thấy dư và được an lành; đó là kinh nghiệm mà tôi từng trải qua.

Ngoài ra, Hòa thượng chọn kinh Duy Magiảng dạy, khiến tôi suy nghĩ. Hòa thượng Thanh Hùng dạy kinh này, phải cân nhắc tinh thần Duy Ma, vì đó là con dao hai lưỡi. Nếu pháp này trao cho quý vị vô tham, vô sân, vô si, thì tuyệt vời. Nhưng đối với người chưa chứng đạo, còn tham, sân, si, coi chừng họ lầm pháp thế gian là pháp tối thượng, bị đọa.

Người vô tham, đem phương tiện trao cho, để họ làm Phật sự. Không nghĩ đến lợi của riêng mình, Phật mới giao cho, là phú chúc gia tài cho cùng tử không có lòng mong cầu. Còn người làm công hèn hạ, kiếm từng đồng cũng mất.

Người tu tính toán nhiều, nhưng không được. Học trò của tôi có người tốt nghiệp khóa giảng sư đầu tiên, nghĩ rằng sẽ làm được nhiều việc, nhưng gặp lại, họ nói không làm gì. Tôi nói vì thầy tính nhiều, nên không được, mấy chục năm lang thang trên cuộc đời cũng hoàn không, đó là kinh nghiệm tôi muốn nhắc tân Tỳ-kheo.

Hãy xem mình là cùng tử gặp Phật, hay là người làm công hèn hạ. Người kẹt tham, sân, si, kinh Pháp hoa xếp vào hạng người làm công hèn hạ, làm ít, muốn hưởng nhiều, Phật không bao giờ cho.

Có thầy nói rằng đã tụng mấy trăm bộ kinh Pháp hoa, nhưng tôi cảm giác như người này chưa đọc, vì đọc kinh Pháp hoamà sao còn thấy khổ. Nếu còn cảm giác khổ và chịu khổ, là còn nghiệp. Người ngoài thấy khổ, nhưng chúng ta thấy là an lạc, vì chúng ta hưởng được pháp vị của đạo và trả ơn Phật, nên cảm thấy nhẹ. Tôi làm gì cũng cảm thấy sung sướng, vì nghĩ mình trả được ơn Phật.

Nhập bất nhị pháp môn theo Duy Ma, phải đạt tới vô tham, vô sân, vô si. Kinh Pháp hoa gọi là đạt tới chân như thanh tịnh và từ tâm chân như khởi lên tâm đại bi, thấy chúng sanh có duyên với mình, thì đến độ; như vậy là vì tâm đại bi cứu độ chúng sanh, khác với tham vọng. Tham vọng chưa đoạn, không nhập được bất nhị pháp môn. Vào bất nhị pháp môn, chưa nói gì, nhưng Bồ-tát Văn Thù khen là tuyệt vời. Tỳ-kheo không làm gì, chỉ lo tu, nhưng trời người cúng dường, là vào bất nhị pháp môn.

Chúng ta chưa vào bất nhị pháp môn, phải theoQuy Sơn cảnh sách để rèn luyện tâm trí, đạt đến vô tham, vô sân, vô si, mới nghĩ đến nhập bất nhị pháp môn.

Mong quý vị dành nhiều thì giờ thực tập, để đạt lý sâu xa của kinh, không phải nghe ngôn ngữ là xong, vì có khi thực tập cả đời còn chưa được. Và sau an cư, đem sở đắc giáo hóa chúng sanh.

Tôi chứng kiến một số trường hạ do Tăng Ni có kiến thức thế gian, nhưng chưa được xây dựng trên nền tảng đạo đức. Ở quả đường, ánh mắt, cử chỉ của một số người không thể hiện tư chất Tăng-già, nên được một, hai tháng thì bể hạ; vì đạo đức Tăng-già xuống cấp, không còn thuyết phục được quần chúng, khiến cho người sợ, không dám tới, hay tới cúng dường, nhưng phước không sanh, đời sống khó khăn thêm và trường hạ phải giải tán.

Ở quận nhà có năm trường hạ duy trì được một tháng là tín hiệu đáng mừng, là trách nhiệm của Ban Chức sự trường hạ lo cho Tăng Ni tu hành, lo đời sống vật chất đầy đủ, nhưng đầy đủ trong tam thường bất túc của người tu.

Việc chính yếu phải lo vấn đề đạo đức Tăng Ni phát triển, để Phật tử thấy, phát tâm, thì phước của họ phải sanh, tức đời sống kinh tế của họ đi lên.

Ban Chức sự trường hạ cần sách tấn Tăng Ni sống theo giới luật, hạn chế ra ngoài, trừ trường hợp Tăng sai, nhưng phải được sự đồng tình của đại chúng cho xuất ngoại, mới là Tăng sai. Làm như vậy, tinh thần Chánh pháp được phục hưng, Phật giáo mới có thể phát triển bền vững, lâu dài theo hướng đi lên của xã hội.

Lịch sử ghi nhận khi Phật thấy các Tỳ-kheo đi khất thực vào mùa mưa, gặp không ít tai nạn. Ngài chỉ đạo chư Tăng cấm túc an cư. Nhưng theo nghiên cứu của tôi, không phải lúc đó, Phật mới cho chúng Tăng an cư. Thật vậy, khởi đầu từ khi Phật thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, Phật đã có tầm nhìn chính xác là thấy nhân duyên.

Nói đến nhân duyên, chúng ta cứ nghĩ nhân duyên là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc… Nhưng đó chỉ là quán nhân duyên của hàng Nhị thừa ở bước đầu.

Nhưng nhân duyên mà Phật muốn dạy là quán nhân duyên của Bồ-tát. Bồ-tát quán nhân duyên là thấy pháp và thấy pháp là Như Lai.

Ngày nay, con đường mà chúng ta chọn là Bồ-tát hạnh và đi đến quả vị Phật. Đối với chúng ta, thấy nhân duyên là thấy người đáng độ, người không đáng độ, thấy chỗ nên đến, chỗ nên tránh. Bồ-tát không thấy nhân duyên như vậy, đi hành đạo sẽ dễ bị sát hại.

Xưa kia, Đạt Ma Tổ sư thấy nhân duyên truyền đạo ở Ấn Độ sắp hết và nhân duyên Phật giáo phát triển mạnh ở Trung Quốc. Vì vậy, ngài đã vượt trùng dương, sang Đông độ là chỗ nên tới. Nhưng đến Trung Quốc, ngài lên Tung Sơn ngồi chín năm quay mặt vô vách, gọi là cửu niên diện bích. Nghĩa là ngài thấy Phật pháp chưa đủ duyên phát triển, phải ẩn tu, vì có làm cũng không thành công. Đến khi đủ duyên, ngài mới đưa Phật pháp lên.

Trên bước đường hành đạo, thấy nhân duyên quan trọng, thấy chỗ không nên làm chùa, đương nhiên không nên xây dựng. Nếu không thấy nhân duyên, cứ xây chùa theo ý mình, cũng bị giải tỏa.

Tôi nhớ hơn một trăm năm trước, Hòa thượng Hồng Tín đã mua đất cất chùa. Hòa thượng Trí Đức bảo rằng Tổ mua đất, nhưng chưa xây chùa, sau này, Trí Quảng xây chùa nhỏ cũng được để kỷ niệm.

Nghe các vị Hòa thượng nói như vậy, tôi suy nghĩ, không biết phải ý của Tổ sư hay không và tôi nhớ Hòa thượng Thiện Minh nói tôi về đó, may ra xây chùa được. Tôi đã chuyển hộ khẩu từ chùa Ấn Quang về đó. Và đúng một trăm năm sau, 1889-1999, thành phố mới cho phép dựng bảng chùa Huê Nghiêm, đó là nhân duyên.

Thời tiết nhân duyên rất quan trọng. Hôm nay có đủ điều kiện tốt nhất cho Phật giáo Việt Nam và Phật giáo quận nhà phát triển. Năm mươi năm trước không được như vậy, nhưng nay quận nhà đã có 13 điểm an cư tại chỗ, Tăng Ni đông, cũng là tín hiệu đáng mừng. Tôi thấy mặt ai cũng sáng lên, là tu một tháng có kết quả. Dù chưa an cư tập trung, chỉ có ý niệm an cư đã làm cho sinh khí bộc phát.

Chúng ta còn nhớ sau khi Phật thành đạo, Đại Phạm Thiên vương đã thỉnh Phật thuyết pháp. Phật nói rằng các ông trải qua quá trình tu hành đúng, đã tạo nên phước báo và gia công thiền định, thành Đại Phạm Thiên vương. Nhưng nếu các ông không tu lên, mà hưởng hết phước, sẽ đọa xuống. Nghe xong, các ông trời nói rằng họ đã hiểu, nhưng tội nghiệp chúng sanh không hiểu, cứ nghĩ Đại Phạm Thiên vương có quyền tạo ra họ, thưởng phạt họ, làm sao Phật dạy giùm cho chúng sanh hiểu.

Phật xả định, đến Lộc Uyển, gặp năm anh em Kiều Trần Như, bảo rằng lâu nay các ông tu không đúng pháp, nên tu cực khổ mà không đạt kết quả. Các ông nên an cư ba tháng, không được ra ngoài, để Ngài cấp thực phẩm cho. Nghĩa là các thầy Tỳ-kheo này đã an cư, ở yên một chỗ ba tháng và Phật hộ đạo. Đó là mô hình mà Phật đã làm trước, sau mới lập giáo khai tông, vì phải đào tạo con người đắc đạo, mới có tổ chức tốt.

Ngày nay, chúng ta lo xây chùa trước, nhưng chưa có người tốt vào ở, là trái đạo Phật. Di Lặc không ra đời làm Phật, vì chưa có con người, ngài phải lo xây dựng con người. Có con người tài giỏi, đức hạnh là có Cực lạc, có thiên đường.

Phật bảo năm anh em Kiều Trần Như ở yên, lo tu cho đắc Thánh quả. Như Lai khất thực về nuôi các ông, nhưng vì là Phật, nên chư Thiên đã chuẩn bị sẵn cúng dường. Ngày nay, các thầy làm Hóa chủ cũng phải có chuẩn bị sẵn mới mở hạ. Như Lai nói thì tín chủ dâng cúng đầy đủ, chư Thiên cúng dường, nhưng chính yếu là chư Tăng phải tu.

Chúng ta tu không có kết quả, vì không thật tu, ít nhất theo truyền thống an cư tập trung, phải có bốn Tỳ-kheo trở lên làm trụ cột cho trường hạ và phát nguyện ba tháng an cư không ra khỏi giới trường, chuyên tu miên mật, chắc chắn đạt kết quả tốt.

Ngày nay, nhiều người tu hình thức, Thiền chủ, Duy na có tên thôi, không có thật. Tôi thăm một số trường hạ tập trung, Thiền chủ đi vắng thì ai làm trụ cột, chắc chắn trường hạ đó không đạt kết quả cao. Ngày xưa, Phật giáo cổ truyền chọn vị Thiền chủ trong ba tháng an cư, không đi ra ngoài.

Phật bảo bốn Tỳ-kheo không ra khỏi Lộc Uyển, ba tháng tu nghiêm túc, họ đã đắc La-hán, tạo thành cảnh quan đẹp, có sức thu hút lòng người. Đám công tử dòng họ Da Xá đi săn bắn ngang qua, nhìn thấy cảnh quan của khu vườn Nai rực rỡ. Họ thấy Phật và năm thầy Tỳ-kheo (năm anh em Kiều Trần Như) đang thiền định, tạo cho khu rừng rực sáng kỳ lạ. Họ liền ném cung tên, xin Phật xuất gia. Phật quán nhân duyên, nhận thấy họ tuy trẻ tuổi, nhưng là pháp khí Đại thừa, có thể tu và đắc đạo. Điều này nhắc các vị nên chọn người cho xuất gia.

Khi tôi còn là học tăng, nghe Hòa thượng Thiện Hoa nói rằng người không làm được gì, cho vô chùa ở là biến chùa thành nhà dưỡng lão. Thấy trẻ con mồ côi, cạo đầu, biến chùa thành nhà cô nhi. Thực sự chúng không muốn tu, nhưng tu bất đắc dĩ thì nguy hiểm, không thể tiếp thu giáo lý Phật.

Do phát tâm Bồ-đề tu, năm anh em Kiều Trần Như tuy lớn tuổi, rất siêng tu, nhưng không được người hướng dẫn. Nhờ Phật chỉ dạy, họ đắc đạo. Năm trăm công tử dòng Da Xá nhờ căn lành đời trước, thấy Phật và Thánh chúng liền phát tâm Đại thừa. Phật cho họ tu ba tháng, liền đắc Thánh quả La-hán. Cha mẹ, vợ con của họ tìm đến, xin tu, nhưng Phật không cho. Ngài nói những người này chưa đủ duyên, ví như trái chưa chín, không được hái. Các vị trụ trì nên nhớ ý này. Người bị vợ bỏ, buồn, đòi tu. Hôm qua, có một người như vậy xin tôi xuất gia. Tôi không cho, bảo ông phải về lo cho gia đình. Các thầy nên cẩn thận việc tiếp Tăng độ chúng.

Phật bảo những người thân của năm mươi thanh niên Da Xá rằng các ông bà muốn tu, phải chờ nhân duyên, phải tạo nhân duyên là thọ Tam quy, Ngũ giới để làm hạt nhân xuất gia. Vì vậy, ngày nay, chúng ta có quy định cho hàng cư sĩ phải thọ Tam quy, Ngũ giới cho đến thọ Bát quan trai giới, tu thử một ngày và sau đó, vô chùa công quả, gần gũi chư Tăng Ni, một tháng đến ba tháng, sáu tháng… lần quen, thấy cảnh chùa thích hợp, lúc đó, xuất gia không muộn. Nói cách khác, phải đợi lòng khát ngưỡng cao, hạ quyết tâm tu, mới thành tựu đường đạo. Còn tu bất đắc dĩ, một trăm người, thậm chí một ngàn người, may ra được một người. Ý này được Hòa thượng Thiện Hoa gọi là trứng cá, bông xoài, đào tạo nhiều, nhưng sử dụng không được.

Quận này có Tăng Ni đông, điều quan trọng, quý vị thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, đi đúng mô hình Phật dạy để ba tháng an cư đạt được sở đắc gì, lấy đó làm tư lương tiến tu xa hơn trên con đường giải thoát.

Đến thăm trường hạ chùa Huê Lâm, tôi nhớ đến Ni trưởng Như Thanh đã sáng lập Ni bộ. Trước đó, thành phố chỉ có chư Tăng. Từ khi Ni trưởng Như Thanh thọ Tỳ-kheo-ni giới, đã xin Giáo hội cho thành lập Ni bộ, mới có chư Ni được xuất gia, thọ giới theo đúng Tỳ Ni luật tạng. Nhờ thắng duyên đó, Ni bộ được phát triển cả nước. Ngày nay, chư Ni phải nhớ công lao của Ni trưởng Như Thanh.

Chùa chúng ta giữ truyền thống an cư, nhưng an cư tại chỗ. Nhưng năm nay, Ban Trị sự Phật giáo thành phố HCM có quyết định mới, nơi nào có Tăng Ni đông và phát nguyện không ra hạ trường, được xếp vào an cư tập trung.

Còn an cư tại chỗ dành cho chùa nhứt Tăng nhứt tự, vì phải trông coi chùa, không đi an cư được, nên an cư tại chỗ. Nhưng mỗi nửa tháng, phải tập trung về nơi chỉ định của Ban Trị sự để kiết giới bố-tát, xem có thực hành đúng không. Nếu không đúng, kiểm điểm xem có phạm điều Phật chế hay không và khắc phục để tiến tu phạm hạnh.

Trong lần tập trung đó, ngoài việc tụng giới bổn, kiểm điểm lại xem có điều nào đúng, việc nào không đúng. Sau đó, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đúng luật, đúng pháp, đạt được kết quả tốt đẹp, chia sẻ kinh nghiệm cho chúng.

Tuy nhiên, nếu giữ đúng luật, nhưng không có kết quả tốt, nghĩa là chúng ta tu hành thường bị ma chướng khó tránh khỏi, đó là bệnh, hay người quyết tâm tu, nhưng bị hôn trầm, ngồi thiền không được, vì buồn ngủ.

Ngày xưa, tôi tu cũng bị hôn trầm, thiền bị ngủ gật, nhất là thời công phu khuya. Hòa thượng dạy rằng đó là do túc nghiệp. Vì vậy, phải siêng năng lạy sám hối, tức sau thời khóa chung của chư Tăng, lạy sám hối cho chính mình. Lạy Hồng danh, cho đến lạy ngũ bách danh và lạy vạn Phật. Có điều kỳ diệu là lạy sám hối xong, hôn trầm tự biến mất, ngồi thiền, tâm hồn sáng ra, cảm nhận được điều mà bình thường không có. Nếu quý vị có nghiệp này, nên siêng năng lạy sám hối.

Về chùa Vạn Phật gợi tôi nhớ lại sáu mươi năm trước, tôi xin chia sẻ kinh nghiệm về pháp tu này. Nếu thấy mình gặp nhiều chướng duyên, phải siêng năng lạy Phật, cho đến thấy hảo tướng Phật, nghĩa là bất cứ lúc nào, trong tâm cũng nghĩ đến Phật, thấy người đối nghịch cũng là Phật, sẽ dẫn đến kết quả tốt.

Nếu có người nói thầy A có ý nói xấu tôi, nhưng vì lòng tôi nghĩ đến Phật, nên nghĩ thầy A là hiện thân Phật, khiến thầy này có ý nghĩ tốt về tôi. Vì vậy, tất cả các pháp do chúng ta nghĩ ra. Nếu chúng ta nghĩ tốt thì pháp tốt. Nếu nghĩ xấu thì pháp sẽ xấu. Với người chưa nghĩ mình xấu, nhưng mình nghĩ họ xấu, họ sẽ xấu với mình. Hoặc họ nghĩ xấu, nhưng chúng ta nhiếp tâm niệm Phật, họ cũng không nghĩ xấu nữa.

Kinh Pháp hoa dạy rằng thuận hay nghịch cũng là duyên đắc đạo. Chúng ta cố gắng thực tập pháp Phật sẽ gặt hái được kết quả cao hơn, giải thoát cho mình và cứu độ chúng sanh.

 

Cầu Phật gia hộ cho tất cả hành giả an cư được an lạc trong Chánh pháp và gặt hái được thành quả tốt đẹp nhất, để tiếp nối sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của chư vị tiền bối, phát triển Phật giáo, làm lợi lạc cho chúng hữu tình. 

 

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top