Tin Tức & Sự Kiện / Kiến Thức Phật Học

Trí Tuệ Soi Đường, Mỗi Thầy Một Hướng, Lợi Lạc Khắp Nơi

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

(Bài giảng tại trường hạ chùa Thanh Long, tỉnh Bình Phước, ngày 30-6-2015)

 

Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng sâu vùng xa, đa số dân chúng ở nơi đây còn nghèo khó, nhưng quý vị đã dấn thân hành đạo theo tinh thần Đại thừa là vì số đông người nghèo để dìu dắt Phật tử giữ đạo. Việc làm này rất đáng được tán dương.

Phật giáo Việt Nam có được thành quả tốt đẹp như ngày nay là nhờ chư tôn đức từ Ấn Độ, Trung Quốc đã vượt trùng dương đến hoằng đạo ở đất nước chúng ta, Tăng Ni và Phật tử Việt Nam mới được thấm nhuần đạo pháp trên hai ngàn năm.

Nhìn lại lịch sử Phật giáo nước nhà, có lúc Phật giáo hưng thạnh, đó là thời kỳ mà Tăng Ni có trình độ học thức và tu chứng, nên được quần chúng kính ngưỡng. Những lúc Phật giáo suy yếu do Tăng Ni kém học, ít tu, hay tu nhưng không ngộ đạo, không chứng đạo, nên mất sự kính ngưỡng của nhân dân.

Vì vậy, bước theo dấu chân Phật, chúng ta phải học, hiểu giáo lý chính xác và áp dụng vào đời sống tu hành, để đạt được giải thoát. Lúc đó, quần chúng nhìn hình bóng giải thoát của chúng ta thể hiện tâm lượng rộng lớn, họ sẽ quy ngưỡng, nghe theo và sống theo tinh thần Phật dạy.

Xưa kia, khi Đức Phật đến Lộc Uyển, Ngài dạy rằng năm anh em Kiều Trần Như tu lâu, nhưng không đắc đạo, vì chọn pháp sai, ứng dụng pháp không đúng. Chính vì vậy mà Đức Phật sanh trên cuộc đời này, Ngài thương nhân gian lầm lạc, thực sự họ không khổ, nhưng tự làm khổ họ. Nói cách khác, đó là những người tu không đúng, thì chẳng những không hết phiền não mà nghiệp chướng lại tăng.

Phiền não mỗi ngày tăng lên là do nghiệp chướng của chúng ta tăng. Từ phiền não tạo thành nghiệp chướng và nghiệp chướng lại sanh ra phiền não, hai thứ này tác động qua lại, làm cho chúng ta tuổi càng cao nghiệp càng nặng hơn, vì khi chúng ta già yếu, không còn đủ năng lực, nên thường sanh ra phiền não.

Như vậy, phải tu sao cho đạt được giải thoát. Nhưng muốn giải thoát, tất yếu phải tắm mình vào dòng pháp của chư Phật. Làm sao chúng ta tiến tu trên lộ trình này, từ đó mà đi lên; nói rõ là ban đầu, tối thiểu phải đạt được quả vị Tu-đà-hoàn.

Riêng tôi, nhờ từ sáu mươi năm trước, đã được chư vị tôn túc hướng dẫn đúng, nên khắc phục được nghiệp, khiến cho phiền não nhẹ lần. Nghiệp và phiền não tác động hỗ tương, nếu khắc phục được sẽ giúp chúng ta dễ dàng gặt hái thành quả tốt đẹp trên bước đường tu.

Phật dạy bài học vỡ lòng cho năm anh em Kiều Trần Như pháp tu đạt giải thoát. Và từ giải thoát đó, trí tuệ mở rộng, tiến lên quả vị Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.

Nếu bước ban đầu tu không đúng, từ đó lần lần sai thêm, về sau khó sửa, bấy giờ tưởng mình tu, nhưng việc hành đạo của chúng ta đi xuống lần cho đến bế tắc.

Trong mùa an cư, quý vị chịu về đây tu hành cùng đại chúng. Có người để chùa một bên, đi hàng trăm cây số tập trung nơi này để được các vị cao tăng hướng dẫn tu cho đúng.

Khi Phật tại thế, trong mùa an cư đầu tiên tại Lộc Uyển, Phật bảo năm Tỳ-kheo không đi khất thực nữa, nên quên việc ăn, mặc, ở, là đạt giải thoát ở điểm này. Nếu người xuất gia mà còn kẹt vào ăn, mặc, ở, là để nghiệp sanh ra, như vậy, không có nghiệp, nhưng mình tự tạo nghiệp, phiền não, trần lao.

Phật dạy các thầy ở yên, để Như Lai đi khất thực, nuôi các thầy. Theo kinh nghiệm, tôi thấy các Tỳ-kheo ở yên tu, sẽ đạt được kết quả đầu tiên là không nghĩ đến ăn, mặc, ở, nhưng ba việc này đối với chúng ta tự tốt hơn. Nếu cầu lại không có. Nhưng trong lòng không cầu nữa, thì cung tự có. Thật vậy, mùa an cư đầu tiên vào năm 1960, tôi nhớ Hòa thượng Thiện Hòa dạy tôi rằng mới thọ giới nên phát nguyện mùa an cư không ra khỏi chùa trong ba tháng. Mỗi ngày tôi siêng năng sám hối cho tiêu nghiệp và thọ trì kinh Đại thừa, cho đến lúc tôi thấm nhuần pháp tu này thì thân tự khỏe ra, tâm vui lên. Vì vậy, tôi phát hiện được ý nghĩa của pháp hỷ thực, pháp là thức ăn tinh thần của người tu.

Con người tinh thần là Pháp thân Bồ-tát, hay chúng ta lấy pháp làm thân và mình có Pháp thân rồi thì thức ăn của Pháp thân là pháp và thiền. Nếu thiếu pháp và thiền, chúng ta sẽ ốm yếu, bệnh hoạn. Thầy nào phiền não nhiều sẽ bệnh nhiều và có bệnh là có nghiệp.

Mùa an cư đầu tiên, tôi lấy pháp trang nghiêm cho thân tâm mình. Mỗi ngày, tôi tụng một bộ kinh Pháp hoa và phát hiện ra ý mới mà Phật muốn dạy, đó là thức ăn tinh thần của tôi. Còn tụng kinh mà mệt mỏi, chán nản thì không nên tụng.

Tụng từng câu kinh thấm vào suy tư, lấy đó làm lẽ sống của mình. Tụng kinh như vậy thì thấy vui và khỏe. Người tu trước có kinh nghiệm này, mới nói: "Hầu trung cam lộ quyên quyên nhuận. Khẩu nội đề-hồ trích trích lương”. Nghĩa là tụng kinh suốt ngày, nhưng không khát nước, cổ vẫn mát và miệng có cảm giác ngọt. Tôi say mê tụng kinh suốt ngày, không khát nước và nhận ra nghiệp khát và nghiệp đói biến mất.

Khi nào chúng ta say mê pháp đến quên ăn, không thấy đói. Quả Tu-đà-hoàn mà Phật nói là ý này. Mình tụng kinh say mê, nhận ra điều huyền bí trong kinh, cảm thấy không muốn ăn, không nghĩ đến ăn. Còn tụng kinh mà nghĩ đến ăn thì nghiệp sanh ra, pháp lạc liền biến mất.

Tới giờ ăn, nghe tiếng bảng, tôi không đi ăn, vì sợ mất thức ăn là pháp. Thức ăn này quan trọng hơn thức ăn vật chất. Không ăn, nhưng tôi cảm thấy khỏe, mới thấy thức ăn pháp quan trọng.

Còn tu sai, chưa tới giờ ăn mà nghĩ đến thức ăn và chờ tiếng bảng để lên quả đường. Cần nhớ rằng chúng ta đi tu không cầu thực, nhưng cầu pháp. Không ăn cũng được, vì cuộc đời chúng ta ngắn ngủi, Phật dạy nên xả thân, chúng ta nghe pháp thì tốt hơn; vì còn thân, nhưng giới thân, huệ mạng mất là điều nguy hiểm đối với người tu.

Khi còn trẻ, thực sự tôi không muốn sống lâu, nhưng miệt mài sống với pháp Phật. Vào lúc tôi xuất gia, ít có trường Phật học như ngày nay. Tôi may mắn được vào Phật học đường Nam Việt và nhờ say mê sống trong pháp, nên tôi nhớ kinh rất nhiều, nhớ rất nhanh và nhớ lâu. Nếu học và nghe pháp bằng tai, nhưng pháp không vào tâm thì khó nhớ.

Việc quan trọng là đưa Phật, đưa kinh vào lòng, thì trong tâm trí chúng ta đã chứa đựng được những tinh ba của pháp Phật là tư tưởng Đại thừa. Đọc kinh và đưa pháp vào tâm, tâm cứ liên tục suy nghĩ về pháp, khiến cho tâm mình lần sáng ra, quên mất việc ăn, mặc, ở.

Quý vị vượt qua hàng trăm cây số về đây nghe pháp, thật là đáng quý. Và nghe pháp, đưa vô tâm rồi, sau đó tiếp tục suy nghĩ về pháp thì tâm sẽ được an lạc, tướng giải thoát theo đó hiện ra.

Thật vậy, trong năm Tỳ-kheo, sau mùa an cư đầu tiên, Kiều Trần Như đắc quả A-la-hán trước, vì lòng ngài vắng bặt nghiệp và trần lao. Tu hành, cắt tướng trần lao để tướng giải thoát hiện ra.

Phật dạy rằng Tỳ-kheo mà còn tướng trần lao, không nên đi ra ngoài để khất thực, vì mục đích của việc vào làng khất thực là để cho người trông thấy phát tâm tu, chứ không phải vì cầu thức ăn.

Kiều Trần Như đắc La-hán, Phật ấn chứng ông được đi khất thực. Bốn Tỳ-kheo còn lại phải ở yên một chỗ để tu, vì chưa đắc Thánh quả mà mang tướng nghiệp, phiền não, trần lao đi khất thực là phạm tội phá pháp.

Đi theo lộ trình Phật dạy, Tỳ-kheo tu hành, không để phiền não khởi lên. Phiền não khởi là gì. Nghĩa là còn tranh nhau miếng ăn, hơn thua lời nói. Thực sự, từ bỏ danh lợi, chúng ta mới đi tu. Luôn nhớ như vậy, chúng ta mặc cho danh lợi, phong ba bão táp giáng lên, mình tập giữ tâm thanh thản. Khi bị người mắng nhiếc, phiền não không khởi.

Trước khi thọ giới, chúng ta phải lãnh thọ ba pháp bất hoại, đó là bị người nói xấu, đánh đập, làm hại, chúng ta không được nói xấu lại, không được đánh trả, không được hại họ. Không phản ứng xấu ác với họ, nhưng suy nghĩ tại sao họ lại đánh mình, nói xấu mình, hại mình. Và chứng đắc lý nhân duyên theo Phật dạy, thì mỉm cười được.

Các thầy cô nên tu ba pháp bất hoại trước. Khi vấn đề xảy ra, mình suy nghĩ nếu trong đời này, mình đã đánh mắng người thì họ đánh mắng lại mình là chuyện bình thường. Nhưng nếu mình không làm gì, họ vẫn mắng mình, thì nên suy nghĩ, thiền định để khám phá được ác nhân mà mình đã tạo từ đời trước, chúng ta chứng được Túc mạng minh.

Theo kinh nghiệm riêng tôi, thấy thầy nào có thiện cảm với mình, tôi biết giữa tôi và vị đó đã có mối quan hệ tốt đẹp từ quá khứ. Đối với người vô cớ gây sự, tôi cũng nhận biết oan trái đời trước mình đã tạo, nay oan gia gặp lại, mình phải tự hóa giải, đó là tu.

Tâm mình không khởi lên là không tạo nghiệp mới. Chúng ta thường phạm sai lầm, hay đổ lỗi cho người khác, đổ lỗi cho hoàn cảnh, mà không tự soi rọi lại chính mình. Điều gì có hôm nay là nhân quá khứ đã có rồi và nếu từ cái nhân xấu ác này mà chúng ta lại khởi lên niệm xấu ác nữa, chắc chắn tương lai mình tệ hơn.

Gặp việc xấu xảy đến, hay phải đối mặt với người ác, lòng mỉm cười, nghĩ rằng như vậy quả báo này mình đã trả xong rồi, là trả xong lời ăn tiếng nói, mình không còn mắc nợ này nữa.

 

Nếu những đời trước, ta tu hành thanh tịnh, kiếp này xuất gia, việc tốt tự đến. Nhưng đời trước tu chưa thanh tịnh, nay gặp lại oan gia. Chúng ta nên học cách tu này của Vô Não. Ông khất thực, bị đánh vỡ đầu, nhưng ông mỉm cười, vì nghĩ rằng túc nghiệp đã trả xong. Ông bạch Phật rằng con thấy an lạc. Phật nói Vô Não đã đắc La-hán.

Các thầy cô nếu gặp oan gia, nên nghĩ rằng nghiệp quá khứ này đã trả rồi và lòng cảm thấy nhẹ. Như vậy, chắc chắn người gây sự sẽ đến xin lỗi; nếu không xin lỗi, họ cũng cảm thấy áy náy và người ngoài sẽ nhận xét rằng thầy đó tu thiệt, không phản ứng lại, nghĩa là họ bênh vực mình, hay để cho người khác nói thay mình.

Tôi đọc từng câu kinh, thấm thía để vô lòng, làm bài học suy cứu. Trong kinh Bảo Tích, Phật dạy Văn Thù Bồ-tát rằng nếu ma vương nói xấu thì đừng đính chính, để ma phải tự nói lại. Phật bảo Văn Thù, nhưng tôi suy nghĩ ý này của Phật dạy để áp dụng cho mình. Khi gặp điều ngang trái, khó khăn, thì Văn Thù là trí, mình dùng trí quán sát, để người nói sai tự nói lại, mắc chi mình đính chính.

Phật thuyết pháp, có nhiều đề tài để chúng ta tự suy nghĩ, chứng lấy, là Tỳ-kheo đem pháp vô lòng để nuôi giới thân huệ mạng bên trong. Tỳ-kheo mà thiếu giới thân huệ mạng thì chỉ còn cái xác, không còn hồn. Hồn Tỳ-kheo rất quan trọng, là quả vị La-hán, hay lấy giới làm thân, trí tuệ làm mạng, thể hiện thành tám điều lành (Bát chánh đạo) là vị Thánh. Trong mùa an cư, thực tập được như thế mới thể hiện tư chất của người xuất gia. Trái lại, an cư nhưng không được pháp phần nào, quả là uổng phí đời tu.

Riêng tôi, nhờ trải qua hơn sáu mươi năm, trầm mình trong giáo pháp Như Lai và thể hiện trong cuộc sống tu hành, mới làm được một số việc lợi lạc cho đạo.

Mỗi mùa an cư, chúng ta ở yên một chỗ, tu khép kín và gặt hái được kết quả nhiều hơn là những tháng khác phải tiếp xúc bên ngoài. Nhưng vì lợi ích cho số đông, chúng ta có mở ra. Thí dụ trước kia tôi nhận trọng trách Trưởng ban Hoằng pháp, tôi nghĩ đến mùa an cư phải ở một chỗ để tu. Hòa thượng Trí Thủ đã khai thị tôi rằng trong mùa an cư, Tăng Ni tập trung một chỗ tu học, nếu thầy không dạy, thì hết mùa an cư, thầy giảng cho ai. Từ đó, tôi có thay đổi. Đến mùa an cư, tôi chuẩn bị hành trang đi thăm các trường hạ, trải qua hai mươi mùa hạ, tôi không ở yên một chỗ. Và tôi đã tập hợp tất cả những bài giảng cho Tăng Ni trong hai mươi mùa an cư (1994-2014) ghi lại những kinh nghiệm hoằng pháp của tôi trên mọi nẻo đường đất nước, từ Nam ra Trung đến miền Bắc, cho đến những vùng ngoại đạo đều có những pháp tương ưng. Tôi xin tặng bộ sách Hai mươi mùa an cư đến Tăng Ni trường hạ tỉnh nhà để quý vị có thể làm tài liệu tham khảo trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.

Thiết nghĩ đối trước những hoàn cảnh khác nhau, pháp Phật tất yếu phải ứng dụng khác nhau, gọi là phương tiện huệ của người tu rất quan trọng. Theo Phật, không nên chấp pháp cố định nào. Kinh nghiệm quý báu này tôi đã trải qua.

Suốt một đời hành đạo, tôi suy nghĩ từ Phật giáo Nguyên thủy đến Phật giáo Phát triển và Phật giáo Đại thừa, tôi nhận thấy người tu pháp môn nào thường ôm chặt pháp môn đó và coi pháp khác đối lập. Riêng tôi luôn nghĩ từ thời pháp ở Lộc Uyển đến thời pháp cuối cùng Phật Niết-bàn, làm sao đây là con đường xuyên suốt để chúng ta nắm bắt. Vì vậy, tôi dành nhiều thì giờ đọc Kinh tạng Nikaya và các kinh điển Đại thừa, đọc hết, không bỏ sót. Và khi ngồi yên suy nghĩ, tôi nhận ra cái thống nhất, hóa ra đó là điều Phật dạy trong kinh Pháp hoa qua thí dụ rằng chỉ có đất sét, nhưng tùy theo nhu cầu của người dùng mà người thợ nặn ra cái nồi, cái lu, cái bình… Cũng vậy, tùy theo căn cơ, trình độ, nghiệp lực của con người mà Phật chỉ dạy các pháp khác nhau.

Vì vậy, đừng cố chấp. Bản chất của pháp tu là giúp chúng ta giải thoát, nhưng phương tiện sử dụng thì có vô số pháp. Có cái nhìn tổng hợp, từ kinh điển Nguyên thủy phát triển lên thành kinh điển Đại thừa. Cũng như từ một người, nhưng khi họ phát tâm vào đạo khác với lúc họ tu hành có tiến bộ và cho đến khi ngộ đạo, đắc đạo còn khác nữa; không phải lúc nào sở tu, sở đắc của mình cũng vậy. Trí tuệ của chúng ta phát triển lần, tầm nhìn phải mở rộng hơn chứ.

Đọc kinh Nguyên thủy, có năm mươi công tử dòng họ Da Xá xuất gia, chỉ qua một mùa an cư, tất cả những người này đều đắc La-hán. Bấy giờ, Phật tuyên bố các thầy đắc đạo rồi, không nên ở chỗ này nữa. Mỗi thầy đi một hướng làm lợi ích cho số đông, làm an lạc cho chư Thiên và loài người. Không nên ở Lộc Uyển mãi.

Ở giai đoạn đầu, Phật bảo các thầy phải ở yên một chỗ để tu, đừng đi, phải thực hành pháp Phật cho đắc Thánh quả. Thực hiện đúng theo Phật dạy như vậy sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp. Nhưng đắc Thánh quả rồi, mà ngồi yên một chỗ, thì uổng công tu, cho nên mỗi thầy phải đi một hướng để giáo hóa độ sanh. Nếu không hiểu ý Phật dạy, chưa đắc La-hán, mà mỗi thầy đi một hướng hành đạo thì làm được gì, thậm chí đi vào vùng ngoại đạo sẽ bị mất mạng.

Nhưng ngộ đạo, chứng đạo, đắc quả vị La-hán, có trí tuệ chỉ đạo, phải có suy nghĩ. Tôi hoằng pháp thành công cũng nhờ có trí tuệ chỉ đạo, suy nghĩ nên đi đến chỗ nào giáo hóa. Phật dạy rằng nên tới chỗ nào có duyên với mình. Phật cũng chỉ độ được người có duyên.

Bát quái có tám cửa, đi vào cửa sống thì sống, đi vào cửa chết phải chết. Tôi nhớ năm 1975, Hòa thượng Thiện Hòa gọi tôi vô, nói rằng ngài nằm mơ thấy trước cửa Tổng vụ Thanh niên, ai đó đã cắm tấm bảng "Tử lộ”. Tôi đã nhổ bỏ cái bảng này và cắm vào tấm bảng "Sanh lộ”. Hòa thượng chỉ nói như vậy thôi.

Sau đó, Hòa thượng Trí Thủ kêu tôi vào Viện Hóa đạo, bảo rằng Thầy Giác Đức đã vượt biên, vậy Trí Quảng làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên. Từ giấc mơ của Hòa thượng Thiện Hòa và lời dạy của Hòa thượng Trí Thủ, tôi làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, cho đến năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hình thành, tôi mới chuyển qua làm công việc hoằng pháp.

Tôi suy nghĩ khi đất nước độc lập, đương nhiên sinh hoạt thanh niên theo hướng cũ phải chấm dứt, thì đó là ý nghĩa của tấm bảng "Tử lộ”. Vì lúc đó, thành phố Hồ Chí Minh có Ban Quân quản do Thượng tướng Trần Văn Trà lãnh đạo, đã chỉ thị rằng các đoàn thể cũ giải tán. Điều này không phải chấm dứt là gì.

Muốn tồn tại, tôi suy nghĩ phải có sinh hoạt theo hướng mới, theo hướng cũ không được chấp nhận. Vì vậy, việc làm của tôi lúc bấy giờ là điều gì Nhà nước chấp nhận, cho phép thì làm. Chế độ mới tất nhiên có luật mới và chúng ta theo đó hành đạo. Luật mới, hay con đường sống của chúng ta là khi luật pháp, Hiến pháp thay đổi, chúng ta không thay đổi không được. Cấm mà làm thì ở tù, nhưng cho làm mà không làm là đánh mất cơ hội. Khi cho phép Tăng Ni tập trung tu học, chúng ta không làm quả là uổng. Thiết nghĩ có trí tuệ chỉ đạo, chắc chắn chúng ta phải làm được điều tốt đẹp.

Phật nói mỗi người đi hành đạo một hướng, có trí tuệ chỉ đạo, thấy chỗ có duyên thì đến. Còn nghe nói đi thì cứ đi là vào cửa tử, không tồn tại. Thật vậy, có người từ thành phố Hồ Chí Minh lên Bình Phước, làm nên sự nghiệp. Có thầy cũng đi, nhưng vô cửa tử.

Các thầy cô đến đây, phát tâm vô vùng sâu, nên coi hành trang của mình chuẩn bị có hay không. Hành trang là gì. Hành trang là chỗ đó có nhu cầu, mình đáp ứng được thì đến, họ hoan nghinh mình; nếu không đáp ứng được, chắc chắn họ không chấp nhận. Thí dụ mình tốt nghiệp tiến sĩ, lên đây hành đạo, nhưng Hòa thượng Trưởng ban Trị sự tỉnh nói rằng ngài không cần tiến sĩ, thì làm sao các thầy lãnh đạo Phật tử nơi đây yên ổn. Không đáp ứng được yêu cầu của địa phương là phiền não phát sinh cho mình và cho người.

Thầy tu đi hành đạo là phải đi đúng chỗ. Phật có mười Đại đệ tử, Ca Diếp giàu có, nhưng bỏ đi tu và chọn con đường khổ hạnh, ăn mặc rách rưới và sống rất đơn sơ, thì đến hóa độ người nghèo, họ mới chấp nhận.

Lên Bình Phước là tỉnh còn nghèo, đa số là người dân tộc. Các thầy cô phải biết phong tục, tập quán của người dân tộc, biết họ muốn gì, làm được gì, theo đó hướng dẫn, họ mới nghe theo.

Phật giáo là đạo trí tuệ, nhưng mình quên điều này. Người dân tộc cần thực phẩm, nhưng mình khất thực, bảo họ cho mình ăn, họ sẽ không chấp nhận. Các mục sư Tin Lành biết họ thiếu thốn, nên tập hợp họ cho gạo, cho thức ăn..., cho đồ chơi cho trẻ con. Tôi quen một mục sư, ông nói rằng tu sĩ Phật giáo học nhiều, nhưng không dùng vô đâu được! Câu nói này khiến chúng ta phải suy nghĩ. Đạo Tin Lành huấn luyện một mục sư làm một việc là chỉ biết cầu nguyện, vì theo họ, cầu nguyện là nhu cầu của xã hội. Đem bằng tiến sĩ lên tỉnh này thì không thành công, chỉ cần chuông mõ để cầu an, cầu siêu, lại có quần chúng, vì dân tộc nơi đây chỉ biết cầu Trời phò hộ cho họ bánh, gạo. Đáp ứng yêu cầu này thì họ theo.

Nếu các thầy cô tốt nghiệp tiến sĩ ở Ấn Độ về, nên đến xin làm việc ở Viện Nghiên cứu Phật học, thành phố Hồ Chí Minh, thì tôi giao công tác, vì tôi đang cần người có học vị; còn vác bằng cấp lên vùng dân tộc để làm gì. Tới địa phương nào phải hội nhập sinh hoạt nơi đó. Nếu tôi lên tỉnh này, cũng phải trồng khoai, cuốc đất để gần gũi mọi người, Phật dạy đó là đồng sự nhiếp, việc làm của mình và họ không khác nhau.

Kinh Pháp hoa diễn tả ý này là ông trưởng giả cởi chuỗi anh lạc, mặc áo thô rách, tay cầm đồ hốt phân để gần gũi cùng tử. Xưa kia, Đức Phật từ ngôi vị thái tử mà từ bỏ, Ngài làm Sa-môn sống gần những người tu khổ hạnh để dìu dắt họ trở về Phật đạo. Ban đầu, các người ngoại đạo nhìn Phật nghi ngờ rằng ông này là thái tử thì chịu cực khổ được mấy ngày. Nhưng khi thấy Phật nhịn đói đến độ da bụng dính với xương sườn là Phật khổ hạnh hơn họ, họ mới nghe theo.

Các thầy cô vô Bình Phước cần hành trang là sức khỏe tốt, biết lao động giỏi và quý vị làm giúp họ, chắc chắn họ dễ nghe theo. Điều này tôi đã thực hiện từ hơn sáu mươi năm trước. Lúc đó, tôi ở tu với một thầy trong am tranh. Ông gốc nông dân, nên trồng bầu, mướp, cây ăn trái cho quả rất nhiều. Ông nói rau quả nhiều quá, làm sao ăn hết, mới bàn với tôi nên xuống xóm kêu họ lấy về ăn, hay hai thầy trò chịu cực gánh xuống xóm cho dân làng. Cuối cùng, chọn giải pháp thứ hai, vì kêu họ lên lấy, chưa chắc họ đi, xuống xóm năn nỉ các ông bà giúp giùm. Cho họ ăn mà phải năn nỉ ăn giùm, khiến họ có ý niệm tốt về người tu, từ đó, họ có gì thì đem lên chùa cho. Đến mùng một, rằm, họ cũng lên chùa cúng, đó là giáo hóa không cần gì, chỉ cần gần gũi, cảm thông họ, họ sẽ thương mình. Tình người phải có trước là như vậy.

Phật dạy mỗi người đi hành đạo một hướng là theo hướng tâm linh, theo định hướng nguyện của mình mà đi, không phải một ông đi Đông, một ông đi Tây rồi chẳng làm được gì. Xưa kia, Ca Diếp cởi áo sang trọng, mặc áo thô rách để sống gần gũi người nghèo mà độ họ. Nhưng Ca Chiên Diên là cháu của Tiên nhân A Tư Đà, ông là nhà chiêm tinh giỏi, nên ông đi vào vùng mà người ta tin vào ngày lành tháng tốt, tin vào những việc mà người bình thường không biết được. Ông chỉ dạy họ giải quyết được những thắc mắc, khó khăn một cách dễ dàng, nên họ nể phục, theo ông để có được cuộc sống bình an.

Theo Phật, mỗi người hành đạo chọn một hướng và suy nghĩ xem nên làm gì. Ở Đồng Xoài, Đồng Phú, tất nhiên việc làm phải khác với Hà Nội, Sài Gòn. Chọn vùng có người dân tộc, dĩ nhiên phải biết tiếng dân tộc và đáp ứng được yêu cầu của họ, mới có thể đem đạo vào đời, làm đẹp cho đời.

Bài học đầu tiên của Phật dạy, mười Đại đệ tử vẫn làm theo. Thí dụ Phú Lâu Na chọn thuyết pháp. A Nan chọn con đường học rộng nghe nhiều, ngài nghe Phật nói, ghi nhớ đầy đủ không sót. Khi Ca Diếp yêu cầu kiết tập lời Phật dạy, nhờ trí nhớ siêu tuyệt của A Nan, chúng ta mới có tạng kinh Nikaya.

Mỗi người một hướng, mỗi người một việc, không giẫm chân lên nhau. Nếu mỗi người cùng một hướng sẽ đụng chạm, không lợi cho mình cũng không giúp được ai, gây ra tranh chấp.

Chọn đúng hướng, đúng việc và theo khả năng, theo nguyện, lần lần chúng ta cùng đi lên, cuối cùng cũng gặp nhau ở một điểm là Niết-bàn, có Đức Phật Thích Ca hiện hữu.

Cầu mong tất cả quý thầy cô đều đi đúng hướng của mình, thành tựu việc làm theo sở nguyện, để Phật pháp còn mãi trên nhân gian làm lợi lạc cho tất cả mọi người. l

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top