Tin Tức & Sự Kiện / Kiến Thức Phật Học

Sách Tấn Chỉ Đạo

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

TẠI CÁC TRƯỜNG HẠ 24 QUẬN HUYỆN, TP.HCM, NGÀY 18/6/2015 – 3/7/2015

 
Từ trước đến năm 2014, Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh chỉ tổ chức mỗi quận an cư tập trung tại hai điểm. Nhưng theo quyết định của Ban Trị sự thành phố, từ năm nay, 2015 trở đi, không phải chỉ có hai điểm an cư tập trung ở mỗi quận huyện. Những nơi nào có Tăng Ni đông đều có thể mở nhiều điểm an cư tập trung. Vì hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có gần tám ngàn Tăng Ni, nên cần có nhiều điểm an cư để Tăng Ni thành phố đều được tập trung an cư.

An cư có hai dạng, các vị an cư tập trung tập hợp một trụ xứ tu suốt ba tháng. Những trường hạ tập trung, Ban Hoằng pháp cử giảng sư đến giảng dạy hàng tuần.

Dạng thứ hai, an cư tại chỗ cũng có hai dạng. Một là chư Tăng, hay Ni có bốn Tỳ-kheo trở lên thường ở trong một trụ xứ có thể kiết giới phát nguyện an cư ba tháng và bố-tát tại trú xứ. Dạng thứ hai là nhứt Tăng nhứt tự không thể tập trung an cư được, có thể phát nguyện cấm túc an cư tại trú xứ của mình. Tuy nhiên, khi an cư như vậy gọi là tâm niệm an cư, hay tùng hạ, cũng phải theo quy định của Phật là không đi ra ngoài, trừ khi có một số Phật sự khác như đi giảng dạy, hộ niệm cầu an, cầu siêu cho tín chủ gắn bó với chùa. Và cũng có quy định chúng ta chỉ làm việc do Tăng sai. Làm xong việc, chúng ta phải về chùa để chuyên tu. Và mỗi nửa tháng cũng phải về trụ xứ có Tăng Ni an cư tập trung để tham gia bố-tát và học hạnh của các vị tôn túc.

Ngoài ra, năm nay, Ban Trị sự thành phố HCM cũng chủ trương các trường Phật học phải ngưng dạy để Tăng Ni tập trung an cư.

Nghĩ lại thời xưa, Tăng Ni thiếu học, nhưng phần tu hành nhiều. Vì vậy, học bao nhiêu, thực tập bấy nhiêu và có các vị cao đức dìu dắt, nên thành tựu đạo lực, thuyết phục được quần chúng.

Ngày nay, chúng ta có hiểu biết rộng hơn Thầy Tổ, tầm nhìn của chúng ta toàn cầu, mối quan hệ của chúng ta khắp năm châu, nhưng thực tập giáo pháp để giải thoát thì ít người được. Thực tế cho thấy phần lớn Tăng Ni ngày nay có học vị đại học và trên đại học, nhưng về phần tu chứng, sơ quả cũng chưa đạt được.

Vì vậy, chúng tôi nhắc nhở Tăng Ni trong mùa an cư, cố gắngthực tập tinh ba Phật pháp cho đạt được kết quả, để có thể giảng dạy đúng như pháp, làm cho Phật giáo hưng thạnh.

Đối với Tăng Ni, từ sơ hạ đến năm hạ, ít nhất phải có an cư tập trung, vì có an cư tập trung mới có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm tu và thấy sơ suất của pháp lữ đồng hành mà chỉ bảo cho nhau cùng sửa đổi, để cùng thăng tiến trên bước đường tu. Đó chính là điều tốt đẹp của truyền thống an cư tập trung.

Tôi thấy những người xuất thân từ Phật học viện và có an cư thường làm nên đạo nghiệp. Người có học vị cao, nhưng không cùng chúng tu học thường dễ phạm sai lầm và gây ảnh hưởng không tốt.

Tôi mong quý vị cấm túc an cư thực sự, thực tập giáo pháp thực sự và đạt được giải thoát thực sự, tiêu biểu cho Tỳ-kheo ở thời đại mới, có hiểu biết mới và việc làm mới, nhưng giải thoát nhất định phải có. Vì người tu mà không giải thoát, không khác gì người thế tục, thì đạo Phật cũng không thể tồn tại.

Mong rằng dưới sự lãnh đạo của Ban Chỉ đạo quận và uy đức của Hòa thượng Thiền chủ, quý vị thực tập giáo pháp được giải thoát, nhưng muốn giải thoát, phải buông bỏ những gì không cần thiết trong việc tu hành, để thực tập giáo pháp đúng nghĩa.

Ngày xưa, tôi học ở Phật học đường Nam Việt, dưới sự dìu dắt của Hòa thượng Thiện Hòa , tôi không ra khỏi chùa Ấn Quang trong ba tháng an cư, chỉ một lòng lễ sám, đọc kinh, thiền quán để tội chướng tiêu trừ, công đức sanh ra, thì tiến tu dễ dàng. Trong thời gian đó, tôi ít tiếp xúc với tín đồ, nhưng thực hành được giáo pháp, mọi người lại muốn thân cận. Vì vậy, mới thấy công đức tu hành quan trọng. Mong chư tôn đức nương vào công đức của Hòa thượng Thiền chủ, để hoàn thiện công đức của mình, sau này, gánh vác Phật sự Giáo hội được thành tựu tốt đẹp.

Ba tháng an cư, Phật dạy chư Tăng tập hợp một trú xứ để chia sẻ kinh nghiệm tu, giúp cho Phật giáo tồn tại trên thế gian. Tồn tại trên thế gian không có nghĩa là tồn tại trên hình thức, nhưng quan trọng hơn, tồn tại trong lòng người, trong sự tôn kính của quần chúng. Nếu chỉ tồn tại chùa và hình thức nào mà quần chúng không tin tưởng đạo pháp, coi như Phật pháp suy đồi, hoại diệt.

Lịch sử cho thấy có lúc chùa phát triển nhanh, Tăng Ni đông là tồn tại hình thức lại trở thành đối tượng tranh chấp với xã hội, đó là mầm mống suy đồi đưa Phật giáo đến hoại diệt. Cao nhất là ở Ấn Độ, Hồi giáo và Ấn giáo đã tiêu diệt Phật giáo, không phải lúc đó Phật giáo suy đồi. Vì lịch sử chứng minh lúc đó, chùa nhiều, Tăng Ni đông, nhưng là thời kỳ yếu nhất của Phật giáo, vì quần chúng không quan tâm đến Phật giáo.

Thật vậy, gần nhất là dân Ấn đã quan tâm đến đạo Hindu là tân Bà-la-môn giáo. Xưa kia, khi Phật xuất hiện, vua chúa, giới trí thức, trưởng giả, Bà-la-môn phát tâm quy y Phật. Chưa có đạo Phật, nhưng vì có Phật, nên người ta hướng về Phật, theo Phật giáo.

Nhưng đến thế kỷ VIII, Phật giáo lên đỉnh cao, chùa nhiều, chư Tăng đông, lại xảy ra tranh chấp trong chùa, trong Tăng đoàn. Chùa lớn có nhiều quyền lợi, làm Tăng Ni quên thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, chỉ thấy quyền lợi, đạo đức Tăng Ni xuống cấp.

Lúc đó, xã hội đi lên, không phải xuống dốc, nhưng vì Tăng Ni hướng về quyền lợi, quên tu. Phật giáo bắt đầu suy đồi, từ chùa tranh chấp nội bộ đến hệ phái tranh chấp. Phật giáo tự suy đồi, tự hoại diệt. Người dân không tin vào trí sáng suốt của tu sĩ Phật giáo và cựu Bà-la-môn giáo cũng suy yếu. Từ ước mơ có đổi mới đã nảy sinh tân Bà-la-môn giáo, nay là đạo Hindu, kết hợp giáo nghĩa Đại thừa và Bà-la-môn cũ. Bà-la-môn mới chống Bà-la-môn cũ và chống cả hình thức tiêu cực của Phật giáo.

Phật giáo ở Trung Quốc cũng vậy, khi đến đỉnh cao, lại có đàn áp Phật giáo, phá chùa, giết Tăng. Phật giáo Trung Quốc năm lần bị pháp nạn, ba lần do vua Võ đàn áp, một lần do vua Chu và lần thứ năm là cách mạng đại văn hóa của Mao Trạch Đông.

Trung Quốc có năm lần Phật giáo suy, nhìn kỹ là năm lần Phật giáo thạnh, có nhiều quyền lợi nhất. Phải nói đời Đường, Phật giáo thạnh nhất, có hai vị nổi tiếng là ngài Huyền Trang và Thanh Lương đại sư. Hai vị này đề xướng pháp tánh của kinh Hoa nghiêm và pháp tướng của Duy thức. Kiến giải của hai vị này vừa thu hút được quần chúng và cả Nho sĩ, đạo sĩ của Lão giáo, Nho giáo.

Vì vậy, vua Đường Thái Tông rất kính trọng ngài Huyền Trang và vua Đường Cao Tông kính trọng Thanh Lương đại sư. Hai vị chân tu nổi tiếng làm vua chúa, quần chúng ngưỡng mộ, giới trí thức kính trọng nhà tu hành, đưa Phật giáo lên đỉnh cao. Lúc đó, chùa lớn, chư Tăng đông, đàn việt cúng dường nhiều, khiến người ta thấy vào chùa tu có nhiều quyền lợi, trước mắt được làm thầy, còn ở ngoài, làm dân không xong. Thực chất người tu không có, mà người tu lại quá nhiều.

Đường Võ Tông nhận thấy Tăng chúng hư hỏng, quần chúng chán ghét, nên ông tuyên bố phá chùa, giết Tăng mà đọa địa ngục, trẫm cũng làm, để cứu dân. Vua kiểm tra toàn bộ Tăng-già qua cuộc khảo thí. Nếu không tinh thông giáo lý, bắt buộc hoàn tục, đi lao động. Đó là pháp nạn thời nhà Đường, mấy chục ngàn Tăng sĩ phải hoàn tục, bao nhiêu chùa bị dẹp bỏ. Vua phế Phật, vì quần chúng thấy quyền lợi tập trung cho chùa, đất hiến cúng chùa, từ đó người nghèo tranh chấp quyền lợi với chùa.

Mặc dù người dân đã chiếm đất của chùa, nhưng họ cũng chưa vừa lòng, cho rằng quyền lợi của nhà sư cũng còn nhiều so với quyền lợi của người dân. Từ đây dẫn đến pháp nạn cuối cùng, cách mạng do Mao Trạch Đông cầm quyền đã phá hủy rất nhiều ngôi chùa và kinh sách.

Phật giáo Việt Nam khác Phật giáo Ấn Độ, Trung Quốc một chút, tức chúng ta không có chùa lớn, không có chư Tăng đông như họ. Nhưng Phật giáo Việt Nam quan tâm đến sinh hoạt xã hội nhiều hơn, nên được dân chúng quý mến. Và Phật giáo thịnh hành nhất vào thời kỳ Lý-Trần, nhưng không có những ngôi chùa lớn như Trung Quốc, Ấn Độ. Tuy nhiên, phần lớn Tăng Ni học rộng, nghe nhiều, tu hành có đạo đức, được kính nể.

Đọc văn thơ Lý-Trần, tuyển được 50 nhà văn thơ thời đó thì có đến 48 người là Thiền sư, hai người là Phật tử. Có thể thấy người trí thức lúc ấy hầu hết ở trong giới tu hành, vì người tu không phải làm việc như người đời phải cực khổ lo kiếm cơm, lo gia đình, lo cho xã hội. Vì vậy, người tu có nhiều thì giờ tập trung cho việc học và tu. Học phải tới nơi tới chốn và tu đạt đỉnh cao, mới có những bài thơ ngộ đạo. Dù có tu hay không, người ta vẫn nhận ra văn thơ thời Lý-Trần ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa mà người đời khó đạt được. Đó là một trong những lý do đưa Phật giáo thời Lý-Trần lên đỉnh cao.

Ngày nay, chúng ta muốn phục hưng Phật giáo như thời Lý-Trần, phải nâng kiến thức lên cao và có tầm nhìn sâu sắc như ngài Khuông Việt, Vạn Hạnh, mới xứng đáng làm thầy của vua, của mọi người, khả dĩ làm Phật giáo hưng thạnh.

 

An cư, nếu Tăng Ni nỗ lực tu, đạt được kết quả cao, chắc chắn hiện tướng giải thoát và tâm hồn cao thượng, cảm hóa được quần chúng kính ngưỡng, Phật giáo mới hưng thạnh.

Trước khi có phong trào chấn hưng Phật giáo, miền Nam không có chư Ni. Ở miền Bắc, ngày xưa còn có chư Ni, nhưng miền Nam là thuộc địa của Pháp, nên đạo Phật bị đẩy lùi vào bóng tối. Vì vậy, vào thời kỳ đó, chư Tăng ít học, chỉ thuộc lòng kinh Di Đà để hộ niệm đám tang là quý rồi.

Đến thời kỳ chấn hưng Phật giáo, Tổ Khánh Hòa thấy Phật giáo suy đồi, ngài phát đại tâm, bán chùa Tuyên Linh để thỉnh Đại tạng kinh giảng dạy chư Tăng. Lớp học đầu tiên ra trường do ngài lãnh đạo là chư vị Hòa thượng: Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Tịnh và gầy dựng cho tới ngày nay, chúng ta có một tổ chức Phật giáo vững mạnh cũng nhờ nền tảng căn bản tốt đẹp này.

Thời xưa, nghĩ học là chính, vì chư Tăng thất học, nhưng khi vấn đề học lên cao quá, vấn đề tu bị sụt giảm. Thật vậy, Phật giáo miền Nam có những vị muốn học hiểu trong đạo và ngoài đời, chúng ta thấy người tu bắt đầu rơi rụng lần. Huynh đệ tôi có bằng cấp tú tài, cử nhân ra làm Hiệu trưởng dạy học và cởi áo tu luôn, hoặc một số người tham gia phong trào tranh đấu, hay làm Tuyên úy cũng không tu nữa. Đào tạo người tu nhiều, nhưng thành công không được bao nhiêu.

Ngày nay, kiến thức được đưa lên tầng cao ngang tầm thời đại, tu sĩ có học vị nhiều, nhưng áp dụng giáo pháp đạt giải thoát không nhiều.

Vì vậy, chủ trương của Giáo hội và Ban chỉ đạo an cư mỗi năm, Tăng Ni bắt buộc phải cấm túc an cư và tất cả Tăng Ni thọ Cụ túc giới rồi, phải có ba mùa an cư tập trung mới được tính lên giáo phẩm. Vì có an cư tập trung, có cọ xát, thấy khiếm khuyết của người mà mình tự tránh, tự sửa đổi và học những điều tốt đẹp của bạn.

Cấm túc an cư, nương vào đức hạnh của Hòa thượng Thiền chủ và Duy na dìu dắt, đương nhiên có khó khăn, nhưng biết sửa đổi, rèn luyện bản thân, sẽ giúp chúng ta thăng tiến sau này. An cư, chúng ta có thì giờ suy nghĩ và ứng dụng mới quan trọng.

Ai mới phát tâm xuất gia, thọ giới thường có quyết tâm cao. Phật dạy giữ được quyết tâm này sẽ tiến lên Vô thượng Đẳng giác dễ dàng. Vì vậy, sơ tâm rất quan trọng, không giữ gìn sơ tâm miên mật, dễ hư hỏng.

Trong sơ hạ, quý vị tập hai chữ buông xả là bước một chân vào giải thoát. Ai làm gì bực mình cũng bỏ qua. Tôi thường nghĩ bực là nghiệp của mình, người ta làm cái nghiệp bực, không phải làm mình bực. Làm sao tách nghiệp ra khỏi con người mình. Tập được pháp này, lần lần thanh thản. Nhờ sống chung với đại chúng trong mùa an cư, mình khắc phục được nghiệp và trưởng thành trên đường đạo. Nếu không sống chung với chúng, thì có ai làm bực, làm phiền; như vậy, nghiệp chướng, phiền não, trần lao của mình còn giữ nguyên.

Ba tháng an cư, thầy nào không bị phiền não xung quanh làm phiền là được giải thoát. Và thực tập được pháp này, mãn hạ về, ta nhận ra được bạn đồng tu đã giúp đỡ mình trưởng thành và cũng cám ơn người đã thẳng thắn phê bình mình, mong mùa an cư sau được gặp lại bạn tốt như vậy để ta có thể tiến xa hơn.

Thiết nghĩ, an cư thực sự, mỗi mùa an cư có tiến bộ và trải qua năm mùa an cư, mới trưởng thành, mới có thể dạy dỗ người khác.

Riêng tôi suy nghĩ không phải chỉ có ba mùa an cư tập trung, còn phải thêm bảy mùa an cư nữa, mới có thể tiếp Tăng độ chúng. Vì không đạt được thành quả trải qua mười mùa an cư, chưa độ được mình, mà độ người thì khó thành công.

Nhiều thầy tới thăm tôi, nói có hơn một trăm đệ tử xuất gia. Tôi nghe vậy, lo sợ cho họ. Mới tu, bản thân thầy như vậy thì học trò sẽ như thế nào. Tôi sợ cho Phật pháp tương lai. Cần nỗ lực tu được giải thoát, mới làm cho người giải thoát; nếu không, sẽ bị họ làm phiền và mình làm phiền họ, là xa rời đạo Phật.

Quý vị cần cố gắng tu, cố gắng thực hành giáo pháp của Phật. Tuy giáo pháp nhiều, nhưng đều nhằm mục tiêu làm chúng ta an lạc, giải thoát.

An cư là sống an lạc, giải thoát, nghĩa là thoát ly ảnh hưởng của xã hội và thiên nhiên. Để thoát ly ảnh hưởng xã hội, chúng ta hạn chế quan hệ xã hội để tâm hồn chúng ta được yên tĩnh, vì suốt năm, chúng ta độ sanh, nên bận rộn nhiều thế sự, ít nhiều bị ảnh hưởng của xã hội, khiến cho tâm bị dao động, nhiễm ô.

Vì vậy, ba tháng cấm túc an cư nhằm thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức bằng cách lấy giáo pháp rửa sạch lòng trần để tâm thanh tịnh, giải thoát. Việc thứ nhất, trong mùa an cư, chúng ta buông xả thế sự, hạn chế công việc tối đa để không bị việc ràng buộc, không bị xã hội chi phối.

Và bước thứ hai, chúng ta còn có thân tứ đại, nên bị thân này chi phối, vì khi tứ đại không điều hòa, khiến chúng ta mệt mỏi, bệnh hoạn. Làm sao không bị tứ đại chi phối.

Theo kinh nghiệm riêng tôi, trong mùa an cư, tôi tập điều hòa cơ thể trước. Tôi tuổi lớn, nhưng ít bệnh, nhờ thực tập điều này. Điều hòa bằng cách hạn chế lao động tay chân và hạn chế ăn uống, giúp sức khỏe tương đối ổn định. Vì lao động nhiều thì phải ăn nhiều và ăn nhiều thành bệnh là điều tất yếu. Có trường hạ, Tăng Ni bệnh nhiều, vì không biết điều hòa cuộc sống, điều hòa ngủ nghỉ, ăn uống cho thích hợp.

Mùa hạ, tôi quan tâm lời Phật dạy rằng không ăn quá nhiều, không ăn quá ít. Và ngài Trí Giả còn dạy rằng không ăn những gì không thích hợp với cơ thể, để không sanh bệnh. Khi Phật tại thế, chư Tăng đi khất thực, được cúng dường thức ăn gì thì dùng thức ăn đó và thời xưa, thực phẩm không có độc tố nhiều. Ngày nay, thực phẩm chứa độc tố tràn lan. Tăng Ni thường ăn thực phẩm chế biến sẵn, đó là thứ có nhiều độc tố khiến cho cơ thể bị xáo trộn, mệt mỏi, bệnh hoạn, ảnh hưởng đến tâm linh. Ngày xưa mà ngài Trí Giả đã nghĩ đến điều này.

Quý vị nấu ăn, nên hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và rau củ quả không sạch. Chùa Huê Nghiêm tự trồng rau, bảo đảm đất, nước sạch. Nếu không tự sản xuất được, nên mua thực phẩm sạch, không có chất độc. Còn ham rẻ và thích thức ăn nhanh, sanh bệnh, chắc chắn khó tu.

Muốn được giải thoát, phải có cơ thể khỏe mạnh, phải điều hòa ăn uống, ngủ nghỉ. Phật dạy ăn một bữa là vừa. Đầu hạ, ăn nhiều, giữa hạ hạn chế, bớt ăn chiều.

Và điều hòa được cơ thể ổn định rồi, không cần quan tâm đến nó, Tăng Ni cần phát huy đời sống tâm linh bằng cách kiểm tra xem lòng chúng ta nghĩ gì. Phật dạy đối với suy nghĩ thiện thì phát triển, suy nghĩ ác thì gạn lọc, dứt bỏ. Thiện đối với tôi là làm người khác an vui, chấp nhận. Suy nghĩ ác là làm người khó chịu, buồn phiền.

Trong ba tháng an cư, làm sao đại chúng thương quý ta, là thiện. Trái lại, chưa mãn hạ mà bị tẩn xuất, hay sang năm xin an cư, người ta không cho, là ác. Có người an cư ra về, Ban Chức sự mong gặp lại là thiện, còn mãn hạ về, Ban Chức sự không muốn gặp lại, là ác. Nói dễ hiểu là ta làm gì mà đại chúng chấp nhận và Ban Chức sự bằng lòng.

Chúng ta điều chỉnh thiện ác tương đối này rồi, bước thứ hai vượt qua thiện ác tương đối, Phật dạy Tỳ-kheo thanh tịnh là thiện, động loạn là ác. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đúng nghĩa là tâm thanh tịnh, nghĩa là không nghĩ thiện, không nghĩ ác.

Mới tu, nghĩ thiện, nhưng nghĩ thiện thuần rồi, không tác ý nữa, tức không nghĩ thiện ác nữa, tâm thành thanh tịnh. Và từ tâm thanh tịnh này khởi lên, kinh Hoa nghiêm gọi là chân như duyên khởi. Từ tâm thanh tịnh, hay tâm chân như khởi lên, quan hệ được với Phật, Bồ-tát, bước vào dòng Thánh, chứng quả Dự lưu.

Tóm lại, phát tâm tu, không bị xã hội, thiên nhiên chi phối, không bị ăn uống, ngủ nghỉ ràng buộc, chứng Sơ quả, dự vào dòng Thánh đệ tử và từ đây tiến tu lên.

Xưa kia, ngài Ca Diếp lãnh y bát của Phật trao cho, ngài vào núi Kê Túc nhập định. Đến khi ngài Di Lặc thành Phật, Ca Diếp mới xả định, trao y bát cho Di Lặc. Điều này nói lên rằng Tỳ-kheo luôn sống trong chánh định, nếu không như vậy, không phải là Tỳ-kheo.

Một Tỳ-kheo thực sự an cư là bế quan, sáu giác quan đóng kín, vì còn nghe việc bên ngoài, khiến ta khởi tâm, dù là khởi tâm thiện cũng làm ta động tâm. Bế quan, cắt đứt hoàn toàn quan hệ xã hội trong mùa an cư, không bị thiện ác bên ngoài chi phối, để tâm hoàn toàn yên tĩnh.

 

Chủ yếu của việc an cư tập trung một chỗ tu hành, không ra ngoại giới. Ở trường hạ tập trung, nương nhau tu, là học điều tốt của nhau và thấy lỗi của bạn để sách tấn nhau, cùng thăng hoa. Nhờ thân cận, được học với các vị tu cao, học rộng, truyền bá Phật pháp có kết quả, sau này chúng ta đi hoằng hóa dễ thành công.

Tôi từng sống thời học Tăng, nương vào các bậc cao đức như Hòa thượng Thiện Hoa, HT. Thanh Từ, HT. Huyền Vi là những vị giảng sư nổi tiếng, nên tôi phát triển việc hoằng pháp nhanh chóng.

Tăng Ni có năng khiếu truyền bá Phật pháp, nên thân cận, nghe các kinh nghiệm của các bậc đi trước, những việc không được, thì chúng ta tránh.

Kinh nghiệm của người trước mà tôi học được, là nơi có nghịch duyên, hay ngoại đạo quá khích, chúng ta tránh. Nếu có khả năng hàng phục họ, chúng ta đến đó; nếu không, đến sẽ bị hại.

Tôi còn nhớ Hòa thượng Thiện Hoa nói rằng có thầy Giải Ngạn ở miền Bắc vào Nam, đến tỉnh Đồng Tháp có cúng dường ngôi chùa lớn, đất rộng. Hòa thượng Thiện Hòa giao chùa này cho thầy Giải Ngạn xuống đó coi ở được hay không. Hòa thượng Giải Ngạn cùng sáu thầy xuống coi chùa. Hòa thượng Huệ Hưng dẫn đường, để sáu thầy này ở lại chùa. Hòa thượng Huệ Hưng về thăm chùa Tổ Kim Huê, nên ngài còn sống. Sáu thầy ở lại chùa, tối đó bị bắt đi mất tích.

Hòa thượng Thiện Hoa nhắc tôi phải biết rõ điều này, nếu chỉ nhiệt tình mà không suy nghĩ thì mất mạng. Hoặc tới vùng ngoại đạo hung dữ, không có bản lĩnh, không biết đối phó, sẽ bị hại.

Hòa thượng Quảng Minh kể rằng, khi thầy làm Hội trưởng Hội Phật học Nam Việt, đến miền Tây thuyết pháp và thành lập chi hội. Thầy bị lính của Năm Lửa bắt đem vô đồn. Ông này chỉ mặt thầy, hỏi mày đi đâu. Thầy trả lời bẩm quan lớn, con đi giảng kinh. Ai cho mày giảng. Quan lớn không cho, con về, rồi xá ổng. Thôi, tha cho nó, lần sau xuống, tao giết!

Đó là kinh nghiệm hoằng pháp của người trước đã nói. Riêng tôi, hoằng pháp, thường cân nhắc chỗ nên đến, nơi nào nên tránh, người nên gặp, người nào không nên gặp. Các thầy và Ni sư có nguyện vọng hoằng pháp nên nhớ kinh nghiệm này. Xưa kia, ngài Mục Kiền Liên hoằng pháp, còn bị ngoại đạo sát hại.

Vì vậy, cảm hóa được hàng ngoại đạo là việc không đơn giản. Nói gần là họ có những cố chấp theo họ. Tôi thử áp dụng có kết quả bằng cách tập sống với ngoại đạo. Trong thời gian ở Nhật, tôi tham gia Hội đồng Tôn giáo thế giới gồm đủ các tôn giáo. Tôi tới với họ, tập lóng nghe họ, coi suy nghĩ, việc làm và kết quả của họ như thế nào, thì đứng lập trường của họ để chia sẻ kinh nghiệm trong cuộc sống; như vậy, họ chấp nhận được.

Không nên đứng lập trường của mình mà nhìn họ là ngoại đạo xấu ác. Theo Phật, chúng ta không nhìn việc xấu của người, dù họ có 99 điều xấu, mình chỉ nhìn một điều tốt của họ thôi, họ cũng chấp nhận mình. Áp dụng tinh thần Địa Tạng Bồ-tát, tôi sống chung với ngoại đạo, cũng nhận được thiện cảm của họ. Một Hòa thượng người Nhật mời tôi về chùa ở. Tôi nói mấy chục năm ở chùa rồi, nay muốn ở nhà thờ thử cho biết, có được an lạc hay không.

Tôi về nhà thờ ở với đức Tổng Giám mục Giáo phận Kyoto, hôm sau cũng bình yên trở về. Tôi từng gặp vị này ở hội nghị ở Ý, ông mời tôi khi nào sang Nhật, ghé nhà thờ của ông. Ở một ngày, tâm tình chúng tôi bộc lộ được. Tôi biết việc chính của ngoại đạo là dùng niềm tin để sống, vì họ nói rằng không có niềm tin thì không sống được.

Các thầy tiếp xúc với ngoại đạo, cần cân nhắc. Ngày nay, Nhà nước chủ trương các tôn giáo không chống phá nhau, phải hài hòa, chia sẻ. Riêng ở thành phố HCM, tôi đã gặp gỡ và tiếp xúc với các linh mục, giám mục, mục sư, các vị chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo. Tôi thường tìm điểm gần nhau để chia sẻ, góp ý, tốt hơn là mình có định kiến.

Một số thầy cố gắng tu, nhưng lại mang định kiến, đầu tiên gạt ngoại đạo sang một bên và trong Phật giáo lại gạt Nam tông một bên, trong Bắc tông lại chia ra, người tu Thiền không chịu người tu Tịnh độ, mình loại nữa. Cuối cùng chung quanh mình toàn đối nghịch, điều này không nên. Là đệ tử Phật, tất yếu phải tập sống hài hòa.

Tôi thấy ở giảng đường này có người tu theo Khất sĩ, có vị tu theo Phật giáo cổ truyền, có vị thuộc Bắc tông và có cả chư Ni, tất cả tập hợp trong tình huynh đệ. Với cách tu tâm hồn cởi mở, chấp nhận tất cả hệ phái và tôn giáo khác, Phật giáo quận nhà chúng ta cũng giao tiếp hài hòa được với họ. Tôi nghĩ đó là điều tốt cho đạo Phật nói chung.

Trên bước đường tu, chúng ta hài hòa với người, nhưng mình vẫn là Phật giáo, họ vẫn là Công giáo, Hồi giáo, không phải họ theo mình, hay mình theo họ. Ba tôn giáo khác nhau, nhưng không thù nghịch nhau, đó là bản chất của Phật giáo để hóa giải mọi xung đột trong khu vực và trên thế giới.

Tôi xin chia sẻ một số suy nghĩ như vậy, để an cư, quý vị suy nghĩ sâu xa, sau này ứng dụng vào đời sống tu hành và truyền bá Chánh pháp được phổ cập, bao dung mọi người.

Nếu không có nguyện làm hoằng pháp, nhưng có nguyện làm trụ trì lãnh đạo một số tự viện, nên thân cận các vị trụ trì thành đạt. Có vị nói làm trụ trì là làm dâu trăm họ, rất khó, vừa lòng người này thì mất lòng người khác. Có người làm trụ trì thành đạt, tôi thấy ai mời cũng đi, ai nói cũng nghe, không biết mệt, không biết giận. Mười giờ đêm, người ta rước cũng phải đi.

Có nguyện vọng làm trụ trì phải nghĩ đến làm vừa lòng tất cả, nếu không được như vậy, không tồn tại.

Theo tôi, làm sao nâng đức hạnh lên cao, mình sẽ vừa lòng được tất cả, không mất lòng ai. Phật đã làm như vậy, chúng ta nên suy nghĩ. Đối với tôi, đi đến nhà bổn đạo, thì giàu nghèo cũng phải đi, nhà nào cũng đi. Đạo Phật chúng ta có tinh thần bình đẳng, đi thì đi hết, nhưng cấm túc an cư thì từ chối hết, vì tới nhà này, không tới nhà khác, không được.

Có nguyện làm trụ trì, để tránh mất lòng, luôn giữ tâm bình đẳng, giáo hóa không phân biệt giàu nghèo, sẽ thành công. Điều này tôi học các vị trụ trì tham dự khóa trụ trì chùa Pháp Hội, nghe được những thành đạt và thất bại của họ.

Còn việc chính của chúng ta là tu tam vô lậu học, mà tu huệ là gốc. Phát huy trí tuệ, mới thấy việc nên làm, người nên tránh, thì tai ương không giáng lên chúng ta. Phật khác với mọi người, vì hành động, lời nói, suy nghĩ của Ngài do trí tuệ chỉ đạo. Chúng ta là đệ tử Phật, học Phật, tất yếu lấy trí tuệ làm sinh mạng để đạt đến quả vị Phật và tùy duyên mỗi người mà hoằng pháp, hay trụ trì, đều thành công.

Trong mùa an cư, vì trách nhiệm được Giáo hội giao phó, tôi phải đi thăm viếng, thuyết giảng, sách tấn Tăng Ni tu học, nhưng xong việc, tôi trở về bổn độ tu. Làm như vậy, không mất tuổi hạ.

Quý vị an cư, có thể đi ra ngoài để làm việc, nhưng phải được Tăng sai và phải về thọ thực kinh hành. Vắng quả đường mười lần là mất tuổi hạ, dù có giấy chứng nhận chăng nữa, nhưng việc hành đạo của chúng ta sẽ bị yếu kém.

Tôi nhắc nhở quý vị cố gắng đi quả đường. Thực tế cho thấy những người tinh tấn tu, công đức sanh ra, làm người phát tâm và cung kính thì mới cảm hóa họ được. Không phải ta nói, nhưng họ thấy hình dáng giải thoát của ta, mà họ tự phát tâm.

Trong lịch sử ghi rằng Xá Lợi Phất trông thấy Mã Thắng với thân tướng trang nghiêm, điềm đạm, thanh tịnh, giải thoát khiến ông phát tâm. Mã Thắng thể hiện Tỳ-kheo đúng nghĩa, có sức cảm hóa, không cần nói. Và khi gặp Phật, Xá Lợi Phất đắc La-hán.

Theo Phật, cố gắng tu, tối thiểu Tăng Ni phải bước vào quả vị Tu-đà-hoàn là điềm đạm, giải thoát, không bị xã hội và thiên nhiên chi phối, vì tâm mong cầu không còn. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni lòng yên tĩnh, không nghĩ đến tiền bạc, ăn uống thì tâm thanh tịnh, giải thoát. Còn bị thiên nhiên chi phối, ngồi ở đây mà nghĩ bữa trưa ăn gì và đi kiếm ăn là vọng niệm, sai lầm. Thuở nhỏ, tôi được hướng dẫn khất thực, về sau mới biết sai. Thầy nói khất thực dễ, mặc áo, ôm bình bát đi. Nếu chỉ như vậy là không đúng và còn dạy thêm muốn ăn bánh mì, ăn chuối thì đến hàng đó xin. Vì ăn mà khất thực là ăn mày. Tâm giải thoát, sẽ hiện tướng giải thoát, đi vào làng, người thấy cúng dường.

Phật giáo truyền đến Trung Hoa, vì văn hóa khác, nên pháp khất thực không thích hợp. Chư vị Tổ sư phái Bắc tông phải thay đổi pháp tu cho thích hợp. Tổ Bách Trượng dạy Tăng sĩ phải tự làm để sống. Ngài sản xuất nhiều của cải và còn dư cho dân nghèo, họ mới phát tâm.

Ngày nay, Phật giáo Bắc tông có truyền thống bố thí. Khi chư Tăng đi bố thí, Phật tử có của hợp tác với chúng ta để bố thí và người nghèo nhận được của giúp đỡ. Như vậy, chúng ta kết hợp được hai giới, người hằng tâm hằng sản cho và người nghèo khó có được miếng cơm manh áo. Làm được việc từ thiện xã hội như vậy, Nhà nước quý kính Phật giáo. Bí thư Thành ủy thăm Phật giáo thành phố HCM, chỉ nhắc một điều rằng năm 2014, giới Phật giáo đã đóng góp được hơn ba ngàn tỷ đồng cho công tác từ thiện.

Mỗi quốc độ có phong tục khác, làm đúng theo nhu cầu mỗi nơi, chắc chắn họ theo. Tỳ-kheo có trí tuệ quan sát ở đâu, nên làm gì là thể hiện đúng tinh thần Phật dạy. Còn chấp vào kinh điển và làm theo ý mình sẽ không thích hợp và không thể tồn tại.

Khi Pôn Pốt tàn sát chư Tăng Campuchia. Một số thầy chấp giới vẫn quấn y, bị họ bắt chặt đầu. Trong khi đó, Hòa thượng Um Sum, vị Pháp sư nổi tiếng của Campuchia, đem y chôn giấu và mặc đồ rách của nông dân, bôi sình lên người, vác cuốc; nhờ vậy, ngài sống. Người thứ hai là vua Sãi Campuchia, Tep Vong, biết Pôn Pốt quý trọng nông dân và ghét thầy tu, nên ngài cũng mặc đồ nông dân và thoát chết.

Ðối với Quốc vương Sihanouk, thầy tu quý trọng, nhưng đối với Pôn Pốt, thầy tu là đối tượng cần tiêu diệt. Vì vậy, gặp Pôn Pốt, phải thay áo tu, tới chỗ này thì phải làm như thế này, đến chỗ khác, phải làm khác, mới tồn tại.

Ý này trong kinh Pháp hoa, Phật nói rằng Ngài thành Phật ở Ta-bà hiệu là Thích Ca, vì ở đây, con người phải vạn năng, việc nào cũng làm được. A Nan thấy Phật xỏ kim cho bà già khiến ngài thắc mắc sao Phật lại làm việc nhỏ nhặt như vậy. Phật dạy rằng khi nào cần, Ngài lên Thiên cung thuyết pháp cho chư Thiên, nhưng ở đây, lúc này, không xỏ kim cho bà già, thì còn việc thiện nào khác để làm.

Có người theo Phật, nhưng cứ ngồi chờ thời, rồi thời gian trôi qua, chẳng làm được việc gì và chết cũng chẳng được gì. Giờ nào việc đó. Tu hành có trí tuệ mới tạo được muôn ngàn công đức. Còn cố chấp vào việc gì, chờ có điều kiện làm, không biết chờ đến bao giờ cho được.

Phải hành Bồ-tát đạo, giáo hóa chúng sanh thuần thục, mới làm Phật. Làm Phật ở Ta-bà, hình thức nào cũng được. Học Phật, tu theo Phật, quan trọng là tâm hồn an vui, giải thoát, giúp người phát tâm là đúng Chánh pháp.

Từ khi làm Trưởng ban Hoằng pháp, tôi đi thuyết giảng từ Nam ra Bắc, có những bài nói về cấm túc an cư được biên soạn thành bộ sách Hai mươi mùa an cư, nghĩa là hai mươi mùa an cư, tôi không ở yên một chỗ, nhưng đi nhiều điểm để thuyết giáo, cũng là kinh nghiệm xin chia sẻ.

Từ năm 1960, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Thiện Hòa, tôi phát nguyện an cư không ra khỏi chùa Ấn Quang trải qua suốt một thời gian dài tu hành. Nhưng khi nhận trách nhiệm Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương, Hòa thượng Trí Thủ bảo tôi rằng mùa an cư, Tăng Ni mới tập hợp một chỗ, thầy nên đến chia sẻ kinh nghiệm tu hành. Nếu đợi mãn an cư, Tăng Ni về trụ xứ, thì chia sẻ với ai. Lời dạy đó của ngài khiến tôi thay đổi, đến mùa an cư, tôi đi từ Nam ra Bắc thuyết giảng mới có bộ sách Hai mươi mùa an cư tặng quý vị làm tài liệu tra cứu.

Mùa hạ, tôi không ở yên một chỗ an cư, nhưng đổi lại, tôi có cấm túc mùa đông, gọi là tu gia hạnh Phổ Hiền. Ðó cũng là mô hình của Phật giáo Nhật Bản chia ra an cư mùa hạ và an cư mùa đông. Chư Tăng đi kiết hạ thì gởi chùa cho chư Tăng không kiết hạ trông coi giùm. Phật tử đến thỉnh sư, sư chỉ qua chùa kế bên, vì bận kiết hạ. Ðến mùa đông, sư kiết đông giao chùa cho sư đã kiết hạ trông coi lại.

Một năm dứt duyên sự bên ngoài để tâm lắng yên, đi vào giáo nghĩa Phật dạy và vào Thiền quán mới thấy được những điều kỳ diệu mà bình thường không thấy được. Thực tế chúng ta thấy Thiền sư ít nói, ở yên, nhưng thu hút được vua chúa, quần chúng, làm được việc lớn.

Chúng ta có cấm túc an cư, gia công Thiền quán, đạt được những kết quả hiện thực và xa hơn, tương lai về Niết-bàn. Mong quý vị đã chọn con đường xuất gia theo Phật, hãy cố gắng đi cho trọn con đường giải thoát, đạt đến đỉnh cao là Bảo sở.

Hiện nay, Phật giáo TP.Hồ Chí Minh có trên một ngàn ngôi chùa, trên bảy ngàn Tăng Ni; người tu đông như vậy, nếu không thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, không kiểm tra để đưa ra khỏi Giáo hội thành phần không tốt, sẽ là mầm mống làm cho Phật giáo suy đồi.

Năm nay, Ban Chỉ đạo an cư TP.HCM có quyết định mở rộng nhiều điểm an cư, nhưng cũng có thu hẹp là buộc an cư phải ở một chỗ tu. Số lượng Tăng Ni an cư tập trung năm nay trên ba ngàn và ba ngàn Tăng Ni an cư tại chỗ, là bắt đầu khởi sắc của Phật giáo thành phố.

Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn, nhận thấy Phật giáo có thời hưng thạnh, vì có các vị cao tăng, không phải tu sĩ đông. Và thời kỳ Phật giáo suy kém, vì Tăng Ni đông, nhưng vắng người đắc đạo, không có người tu có uy tín với quần chúng.

Thật vậy, thời nhà Ðinh, chư Tăng không nhiều, nhưng Tăng-già thời đó làm người phải kính ngưỡng. Thời Ðinh chỉ có ngài Ngô Chân Lưu, tức Khuông Việt thái sư làm vua chúa kính nể, dân chúng gần gũi và sứ thần ngoại quốc phải nể sợ. Ngài là nhà sư đắc đạo có tầm nhìn xuyên suốt, ngày xưa gọi là thượng thông thiên văn, hạ triệt địa lý, trung quán nhân sự. Nhà sư thông suốt ba điều này giúp vua trị nước an dân, giúp dân phát triển đời sống tâm linh, đạo đức và ổn định xã hội.

Trên nhìn thiên văn, biết thay đổi của trời đất, dưới biết mọi việc xảy ra trên đời, thường gọi là mười hiệu của Phật Thích Ca: Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.

Nhưng không trọn vẹn được như vậy, chỉ biết chuyển biến trong trời đất, biết việc xảy ra trên cuộc đời, từ đó, nhà sư tham gia giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, phát triển đất nước, trở thành quốc sư. Ðược như vậy, Phật giáo phát triển lên, nghĩa là từ không trở thành có, cho đến đỉnh cao là Phật giáo thời Trần. Từ vua Trần Thái Tông ngộ đạo, đến Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông là ba vị vua đầu nhà Trần chịu ảnh hưởng sâu sắc đạo Phật. Các ngài vừa làm vua trị nước chăn dân, vừa là Thiền sư ngộ đạo, tạo thành ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo nhập thế.

Phù Vân quốc sư dạy Trần Thái Tông rằng Phật không có trong núi, nhưng Phật hiện hữu trong tâm. Từ trước, Phật ở trong núi, ở trên mây, Phật ở Niết-bàn. Ngài dạy chỗ nào mà tâm chúng ta tiếp cận được với Phật, đó chính là Phật, là cốt lõi của pháp Phật.

Nếu tâm chúng ta là Phật, mới có lời nói thuyết phục người. Thể hiện sâu sắc lý này, kinh Pháp hoa nói: "Tâm là Thiền, thân là Phật, miệng là Pháp”. Chỗ này bất chấp văn tự, vì người ngộ đạo nói gì thì đó là chân lý, không phải pháp nằm trong sách. Ý này được nhà Thiền gọi là giáo ngoại biệt truyền, tức nằm ngoài kinh sách.

An cư, chúng ta nỗ lực khám phá cốt lõi này để tâm sáng lên. Phật dạy trong kinh Pháp hoa, tâm được bừng sáng thì có Pháp hoa. Tâm u tối, tâm chấp ngữ ngôn văn tự cũng không có Pháp hoa. Người tụng một ngàn bộ kinh cũng không có kết quả là nghĩa này.

Thật vậy, Ấn Tông pháp sư thuộc lòng kinh Pháp hoa, giảng kinh Pháp hoa không cần coi bổn, nhưng gặp Huệ Năng Lục tổ, Ấn Tông mới nhận được Lục tổ ngộ đạo. Vì vậy, ông bước xuống pháp tòa, đảnh lễ ngài Huệ Năng, coi ngài là Bồ-tát hiện thân lại để khai ngộ cho người được giải thoát. Tu cả đời, nhưng không được, chỉ thấy Huệ Năng là ngộ đạo, đó chính là ý nghĩa giáo ngoại biệt truyền. Tu hành đắc đạo có đặc sắc như vậy. 

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top