Tin Tức & Sự Kiện / Kiến Thức Phật Học

Hạnh Bồ Tát Quan Âm & Bồ Tát Diệu ÂM

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

Ấn Tông lạy Huệ Năng là cư sĩ. Kinh Pháp hoa không chấp hình thức xuất gia, tại gia, già trẻ, tu nhanh hay tu chậm, nhưng căn cứ vào ngộ đạo. Người mới tu mà ngộ đạo thì cũng là thầy của mình. Ấn Tông đảnh lễ cư sĩ Huệ Năng ba lạy và Huệ Năng cũng lạy lại Ấn Tông ba lạy, xin thầy cho con xuất gia. Điều này cho thấy các Bồ-tát nhìn nhau qua Pháp thân. Vì Huệ Năng còn là cư sĩ và Huệ Năng lạy xin xuất gia, Ấn Tông cạo tóc cho Huệ Năng xuất gia. Về sau, ngài Huệ Năng xây chùa Nam Hoa theo Thiền. Chùa Long Thạnh này cũng là chi phái của chùa Nam Hoa.

Quý thầy học, lặn sâu vào tâm, tức hiểu giáo ngoại của thầy Tổ và thực tập được tinh ba này, cuộc sống tu hành sẽ có sức thuyết phục kỳ diệu như các Tổ sư. Và có những người ngộ đạo, Phật giáo mới phát triển, còn đông tu sĩ hình thức sẽ dẫn đến Phật giáo suy đồi.

Phật giáo thời Trần lên đến đỉnh cao, vua Trần Nhân Tông được chúng ta kính nể là Phật, đã kết hợp được giới xuất gia và tại gia. Nói cách khác, đạo đi vào đời, làm đẹp cuộc đời. Đời không có đạo thì xã hội xuống cấp.

Kết hợp được hai giới xuất gia và tại gia là thành tựu cao nhất của nhà Trần, thống nhất được Phật giáo thành Thiền phái Trúc Lâm, nhưng chỉ được ba đời, đến ngài Huyền Quang, tuy chư Tăng đông, nhưng không có người ngộ đạo, Phật giáo bắt đầu đi xuống.

Đến thời Trần Anh Tông, nhà vua bệnh, nên nhiều người đề nghị rước thầy cầu an. Vua nói không cần, vì an hay không, trẫm tự biết. Ở giai đoạn trước, vua cần sư, vì sư ngộ đạo, nhưng nay, vua thấy không có sư ngộ đạo, nên xem thường. Cuối cùng, khi Hồ Quý Ly lên ngôi, giải tán chùa, đưa chư Tăng về lao động sản xuất.

Phật giáo đời Trần từ đỉnh cao đã bị sụp xuống, vì thời đó, quá nửa dân chúng là sư, người lao động sản xuất thì ít, mà người không sản xuất thì nhiều. Hồ Quý Ly thay đổi chính sách, chủ trương cần lực lượng sản xuất, không cần sư. Điều này nguy hiểm. Quý vị nên biết khi xã hội cần, chúng ta tồn tại, không cần là diệt vong. Điều này cũng được dạy trong kinh Pháp hoa rằng thế gian tướng thường trụ. Thường trụ ở đâu. Phật nói Phật thường trụ trong con người, trong niềm tin của con người. Nếu con người không tin Phật, Phật mất.

An cư, nỗ lực thực tập giáo pháp Phật, đạt được các quả vị làm tươi mát đời sống tu hành, làm biểu tượng cho người tôn kính, làm sáng danh Phật giáo.

Lịch sử cho thấy Phật giáo ở thời Pháp thuộc bị đàn áp, Tăng Ni ít, nhưng tu sĩ thời đó có tâm huyết, nên Phật giáo phát triển.

Người đầu tiên xây dựng nền móng là Tổ Khánh Hòa. Ngài vận động Tăng Ni học Phật rất khó, nhưng vì tâm huyết của ngài quá lớn, nên được một số thí chủ và trí thức ủng hộ, mới gầy dựng được Lưỡng Xuyên Phật học. Ngài không quản ngại gian khổ ở thời kỳ khó khăn nhất, đạo lực của ngài đã khiến người khác phát tâm.

Người thứ hai chúng ta thấy là Tổ Huệ Đăng ngộ được yếu chỉ kinh Pháp hoa. Ngài mới từ giã chùa Long Hòa vào hang ông Hổ ẩn tu. Tổ Khánh Hòa chủ trương chư Tăng phải học rộng nghe nhiều, còn Tổ Huệ Đăng chủ trương chư Tăng phải tu cho đạt kết quả.

Tôi kết hợp học và tu, học để tu cho đúng Chánh pháp và tu để thể hiện cốt lõi Phật dạy trong cuộc sống làm lợi ích cho mình và người.

Khi Tổ Huệ Đăng gặp Tổ Long Hòa, ngài cho tên Huệ Đăng là ngọn đèn trí tuệ. Điều này quan trọng, thầy trò phải hiểu nhau và muốn hiểu phải ngộ đạo, không phải chỉ là hình thức thầy trò. Trường hợp Tổ Huệ Đăng và Tổ Long Hòa, học trò thấy thầy, nhận ra ngay là thầy mình và thầy thấy học trò, biết đó là pháp khí Đại thừa.

Vì vậy, Tổ Hải Hội đã thọ ký cho ngài Huệ Đăng và trao kinh Pháp hoa cho ngài, bảo vào hang tu để hiểu nghĩa sâu xa, chứng đạo. Vào hang tu, đầu tiên, ngài ngộ, viết hai câu để trước động:

Tá thạch vi tường

Thục Thức lão Tăng cùng đáo để

Dĩ phong tác phiến

Thùy tri đại đạo lạc vô cương.

Nghĩa là lấy vách đá làm tường

Người tu đạt đỉnh cao nhất là buông được tất cả, sự nghiệp, công danh, tài sản bỏ trước, kế đến, nhập định miên mật, quên thân mình, đi tới cùng tột ngọn nguồn, tâm mới đứng yên, thấy bên kia là bầu trời sáng. Bên này là ngũ uẩn thân, nhưng chấm dứt ngũ uẩn thân, Pháp thân sáng ra.

Nếu tâm còn kẹt với ngũ ấm thân thì khổ muôn đời, nhưng đi đến cùng tột, Tổ nói thân này biến mất, thấy bờ bên này là sinh tử, bên kia là Niết-bàn và sang được bờ bên kia, đẹp biết bao, đó là tâm chứng đạo, ngộ đạo.

Sau khi đắc đạo, ngài Huệ Đăng có sức thu hút quần chúng, những người có tâm huyết học đạo tự tìm tới ngài. Về sau, ngài có lớp đệ tử làm nên việc lớn là các Hòa thượng: Minh Nguyệt, Thiện Hào, Pháp Dõng, Pháp Lan…

Hòa thượng Trí Đức nói lúc còn trẻ, nghe tên Tổ, tự nhiên muốn tìm ngài tu học. Ra Thiên Thai, Hòa thượng được Tổ dạy rằng không cần tụng hết bộ kinh Pháp hoa, chỉ tụng quyển 7 của kinh này là đủ.

Tôi suy nghĩ, cố tìm ý Tổ dạy, tụng đi tụng lại quyển 7 kinh Pháp hoa và nhận ra quyển 7 nói về Bồ-tát hạnh, trong đó có các vị Bồ-tát là Diệu Âm, Quan Âm, Dược Vương, Phổ Hiền xuất hiện, gợi ý cho chúng ta thấy hạnh đức của các ngài để làm theo.

Thật vậy, nếu quý vị hành đạo theo Quan Âm, không nên chấp tướng, hình thức nào cũng được, miễn được giải thoát và làm cho người phát tâm. Bồ-tát Quan Âm có điều đặc biệt, người ta cần ngài làm vua, người nghe thì ngài làm vua. Mình không phải là vua mà nói kiểu vua, không được, có khi còn mất mạng. Chỗ này người ta cần hình thức Sa-môn, thì hiện thân thầy tu, người nghe theo. Còn cố chấp hình thức nào, sẽ chết.

Điển hình là Hòa thượng Um Sum, ngài là Pháp sư nổi tiếng trong 25 Pháp sư Campuchia sống sót trong cuộc tàn sát của Pôn Pốt. 24 vị Pháp sư giữ áo tu bị sát hại, riêng ngài cởi áo tu để giữ đạo. Đó là bài học lớn cho chúng ta hiểu rằng không nên chấp hình thức, hình thức nào giúp chúng ta giải thoát, chúng ta chọn, hình thức nào mà nói người nghe theo, chúng ta chọn. Chúng ta sống theo hạnh Quan Âm để được giải thoát.

Hạnh thứ hai chúng ta học là Diệu Âm có đặc biệt, ngài ở thế giới thanh tịnh, nhưng tới Ta-bà, làm xong việc, trở về thế giới thanh tịnh. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng người tu có hai loại hình thế giới, vào Ta-bà cứu nhân độ thế, nhưng phải trụ ở trụ xứ chúng ta chuyên tu. Nói cách khác, vào Ta-bà giáo hóa chúng sanh, nhưng tâm không rời An dưỡng quốc, vì rời An dưỡng quốc là đọa.

Ra làm đạo, nhưng bổn gốc chúng ta đừng cho mất. Tăng Ni phải nhớ bất biến, nhưng tùy duyên. Bất biến là tâm chúng ta đừng thay đổi, tâm thay đổi, mất gốc là hỏng đời tu. Tùy duyên để làm đạo, được an lạc cho mình và người.

Diệu Âm tới đâu cũng hiện hoa sen, nghĩa là mang tinh thần vô nhiễm, nhiễm trước là hư. Tới làm đạo, vì người, không vì quyền lợi. Còn quyền lợi, có tranh chấp, phiền não sanh ra. Làm được việc thì tốt, không làm được cũng không sao, đừng để làm được mà phiền não phát sinh. Nhiều khi quý vị có tâm vì đạo là điều tốt, nhưng còn phiền não, buồn giận thì không được.

Phải tập như Diệu Âm là hoa sen, muốn giúp người, nhưng không được thì thôi. Tôi luôn đứng lập trường này, chỗ cần, mình tới. Cần là người ta thỉnh.

Phật Thích Ca mời Diệu Âm qua Ta-bà, Ngài phải phóng hai luồng hào quang là vô kiến đảnh tướng và bạch hào tướng chiếu đến Diệu Âm, Diệu Âm mới tới. Và ngài nói phải qua Ta-bà, vì Phật Thích Ca mời, phải đi. Ngài xuất hiện ở Ta-bà để trợ hóa Đức Thích Ca, nhưng làm Phật sự xong, ngài trở về bổn độ.

Trên bước đường tu, chúng ta nên cân nhắc ý này. Ta-bà là nơi chúng ta tạm ở để hành đạo, nhưng xong việc, phải về gốc của chúng ta. Tu ngộ đạo, đạo là gốc, ra làm mọi việc đều là phương tiện hành đạo, nhưng làm xong, phải về gốc. 

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top