Tin Tức & Sự Kiện / Kiến Thức Phật Học

Giáo dục theo Phật giáo

Giáo dục theo Phật giáo

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

 

       Giáo dục của Đức Phật rất đa dạng, nhưng người chấp mặt này, người chấp mặt khác, từ đó mới nói rằng Phật dạy như vầy thì phải làm như vầy mới đúng. Điều sai lầm này được kinh Phật ví như người mù rờ voi. Muốn hiểu lời Phật dạy phải có cái nhìn toàn thể mới thấy toàn diện đúng đắn; nếu chỉ căn cứ vào một điều gì của Phật dạy thì chỉ đúng một phần tương ưng với khía cạnh nào đó, thích hợp với hoàn cảnh hay thời kỳ nào đó, quốc độ nào đó mà thôi.

       Thể hiện tinh thần này, Phật dạy rằng chân lý chỉ có một, nhưng phương tiện thì có nhiều vô số. Hiểu đúng như vậy, chúng ta không nên chấp vào phương tiện. Nói rõ hơn, tất cả pháp Phật đều là phương tiện. Cho nên chúng ta thấy Phật dạy Tỳ-kheo khác với lời dạy mà Phật dành cho vua chúa, hoặc Phật dạy hàng trưởng giả khác với dạy thanh niên…

        Vì vậy, không có pháp nào giống với pháp nào và trở về kinh Pháp hoa có chín thí dụ nói về những cái khác nhau. Trong chín thí dụ đó, thầy đọc Phạn bản có những thí dụ mà bản chữ Hán không có. Trong bản chữ Hán chỉ có dụ ba cỏ hai cây nói về các pháp sai biệt, tức đối với năm hạng người ở thế gian mà Phật nói pháp khác nhau. Hàng Bồ-tát là người mang chí lớn tiến đến quả vị Toàn giác và phát đại bi tâm cứu độ muôn loài chúng sanh, nên được ví như là cây lớn. Những người chỉ nghĩ đến giải thoát cho riêng mình, kinh Pháp hoa xếp họ vào ba loại cỏ. Hàng Bồ-tát nhân gian ví cho loại cỏ chỉ cao khoảng một thước. Cỏ bậc trung cao độ năm tấc chỉ cho Duyên giác và cỏ ở sát mặt đất lên độ năm phân chỉ cho Thanh văn. Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát đều đi đến giải thoát. Hàng tam thừa giáo này chỉ dắt người ra khỏi sanh tử lục đạo luân hồi và ra khỏi sanh tử rồi, còn những việc khác nữa được kinh ví như là cây nhỏ và cây lớn thì hàng tam thừa nói trên chưa làm được.

       Cây nhỏ ví cho Bồ-tát mười phương mà chúng ta không thấy, nhưng rất quan trọng. Bình thường, sống trên cuộc đời này, mọi người cứ nghĩ rằng do mình giỏi, có tài, có tiền, mới làm được nhiều việc. Hoặc các Phật tử thấy thầy làm được nhiều việc, trong đó có việc xây dựng Học viện này. Tuy nhiên thầy có cái nhìn khác, thầy và quý thầy khác cùng xây dựng Học viện, nhưng thực chất sự đóng góp này có thể nói còn hạn chế; vì nếu nghĩ xa hơn, mọi việc khó mà thành tựu được là nhờ ơn trên. Tu Pháp hoa gọi là nhờ Phật hộ niệm. Nhờ Phật hộ niệm, thầy mới làm được, không phải thầy giỏi hơn thầy khác.

      Chúng ta tu như thế nào để được Phật hộ niệm, tu hành hơn nhau ở điểm đó. Thật vậy, thực tế cho thấy có người giỏi làm được một lúc, rồi không làm được nữa. Tại sao Thượng đế lúc giúp lúc không, hay tại sao Phật không hộ niệm cho mình nữa. Vì khi ta phát đại tâm, đại nguyện đồng với Phật, nên Phật mới hộ niệm. Thông thường khi ở vào hoàn cảnh khó khăn, mình nhờ đến thế lực siêu hình trợ giúp, nhưng làm được rồi, lại nghĩ là mình giỏi, nên làm được; nghĩa là tâm mình đã thay đổi, nên không được hộ niệm nữa.

     Tu Pháp hoa, điều quan trọng là phải được Phật hộ niệm. Nhưng chúng ta làm trái với lời Phật dạy, Phật không hộ niệm, chúng ta mới sử dụng khôn ngoan, thủ đoạn, tính toán, tức trở về con người thường thì có người giỏi hơn, khôn hơn, mình phải thua.

      Thầy tin tưởng làm việc đúng với nguyện của Phật, Bồ-tát, chắc chắn sẽ được các Ngài gia bị. Vì vậy, thầy thường nói việc xây dựng ngôi trường này mà thầy làm được vì Phật cũng muốn chúng ta mở trường để dạy người sống theo Phật, Phật cũng muốn xây dựng thế giới này thành Cực lạc. Muốn của ta và nguyện của Phật giống nhau, nên Ngài hộ niệm.

       Trở về thực tế cuộc sống, ý muốn của thầy là đào tạo Tăng tài, cho nên các Phật tử ở xa, nhưng cũng muốn Phật pháp phát triển, nên họ phát tâm cúng dường. Họ ở nước ngoài cũng tha thiết với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, mới để dành tiền cho mình xây dựng. Chúng ta làm đúng thì họ ủng hộ. Vì vậy, thấy người xung quanh hướng về mình thì biết hạnh của mình được đa số ủng hộ, đương nhiên thế giới vô hình cũng hộ niệm. Khi ta lo cho đất nước, được ông bà tổ tiên ủng hộ; ta lo cho Phật pháp thì Phật hộ niệm. Việc làm của ta đồng với ý muốn của thành phần nào, thành phần đó ủng hộ. Việc của chúng ta tốt sẽ được thế lực tốt ủng hộ. Nếu việc của ta đồng với ác ma, tất nhiên sẽ được ác ma hỗ trợ, nên vẫn thành công. Và khi thế lực xấu nhiều sẽ chuyển đổi thế giới này thành địa ngục. Người tốt nhiều hơn thì ở nơi đây trở thành thiên đường, hay Cực lạc.

      Đức Phật thuyết pháp cho loài người nghe khác với pháp của Phật nói cho Bồ-tát, hay chư Thiên. Kinh Nguyên thủy ghi rằng ban đêm Phật thuyết pháp cho chư Thiên nghe, ban ngày, Phật thuyết cho con người nghe. Và Phật thuyết trong Thiền định cho các Bồ-tát trụ định. Bồ-tát không nhập tam ma địa không nghe được pháp vô ngôn.

      Phải nhìn một cách toàn diện, chúng ta mới thấy được giáo pháp của Phật và phải tới thời Pháp hoa, người ta mới thấy toàn diện. Nghĩa là trước khi Phật nói Pháp hoa, Ngài nói kinh Vô lượng nghĩa. Kinh Vô lượng nghĩa là gì. Đương nhiên kinh Vô lượng nghĩa có ba phẩm, nhưng nhìn xa, phải hiểu kinh Vô lượng nghĩa là tất cả các kinh. Từ ý này, nếu chúng ta đọc kinh Duy Ma thấy rằng Duy Ma không phải là con người thực, nhưng là người từ thế giới Vô động hiện ra, tức Bồ-tát này trụ định, không nghe ngôn ngữ, nhưng nghe bằng Thiền định, bằng tâm.

      Nghe pháp bằng tai và thâm nhập vào tâm là Thanh văn thừa. Còn người nghe pháp, nhưng pháp không đi vào tâm là hàng phàm phu loạn động. Vì vậy, mỗi khi thuyết pháp, Phật thường dạy rằng các ông nên lóng nghe, nghĩa là chú ý nghe thì pháp mới thâm nhập vào tâm được; nói cách khác, nghe và truyền vô ký ức giữ lại là nghe và suy nghĩ, rồi thực tập có tiến bộ. Nghe pháp như vậy, họ chứng được quả Tu-đà-hoàn là vào thế giới Phật mới nghe pháp được. Hòa thượng Thanh Từ gọi là vào cửa chùa, tức vào được dòng Thiền. Người nghe pháp đúng đắn như vậy, chỉ nghe Tứ niệm xứ quán đã chứng được Tu-đà-hoàn, đạt được giải thoát.

       Chứng Tu-đà-hoàn là gì. Người nghe giáo pháp Phật, biết được tất cả mọi việc thành bại trên cuộc đời này đều do phước đức quyết định. Vì vậy, việc tu hành của chúng ta là cố gắng tạo phước đức, không thể dùng thủ đoạn, khôn ngoan. Quán sát kỹ thực tế cuộc sống, thấy được biết bao người khôn ngoan phải chết vì khôn ngoan; chỉ có phước đức mới cứu chúng ta được. Người có phước đức lớn thì làm được việc lớn. Người mà phước đức nhỏ chỉ làm được việc nhỏ. Ý thức như vậy, người tu Đại thừa lo vun trồng cội phúc.

       Đầu tiên Phật nói Tứ niệm xứ quán để chúng ta thực tập sẽ đạt được pháp Không. Kinh Pháp hoa gọi là ra đến bãi đất trống, tức không kẹt tham vọng. Vì vậy, cắt tham vọng là được giải thoát ngay, ta không bị xã hội chi phối. Khi đi tu, thầy thí nghiệm pháp này, bỏ ham muốn là thực chất xuất gia. Người xuất gia không giải thoát vì mặc áo giải thoát nhưng tâm hồn không giải thoát. Hoặc không mặc áo giải thoát, nhưng tâm hồn giải thoát là hành giả Đại thừa. Mặc áo giải thoát và được giải thoát là nhị thừa Thanh văn. Người tu Thanh văn buông bỏ tất cả, đi khất thực, không nghĩ gì, có gì ăn đó, họ được giải thoát. Còn cố chấp sẽ bị xã hội ràng buộc. Xã hội ràng buộc là gì. Người có chức có quyền thì bị chức quyền ràng buộc. Thầy quen người giàu, quyền thế nói rằng con không có thì giờ ăn ngủ, vì tâm họ bị ràng buộc quá nặng. Con theo thầy mười lăm năm, nhưng không có thì giờ lên y, vì suốt đời mắc lo làm kiếm tiền.

       Trái lại, một Phật tử khác thưa rằng con lớn rồi, không làm nữa, lo tu. Con nguyện sau khi chết, số tiền con dành dụm chia hai, một phần giúp người nghèo, một phần cúng dường xây Học viện. Nhờ thầy giúp con làm như vậy. Bà này nhỏ tuổi hơn thầy mà đã nghĩ đến cái chết là hiểu đạo, không bon chen, giành giựt, Chủ nhật đi chùa nghe pháp, tu hành và có tiền lo cho người khác. Có tâm và việc làm như thế, chắc chắn được Phật hộ niệm, nên bà không bệnh và không chết sớm, sống để làm những gì Phật dạy.

       Thuở nhỏ thầy tu cũng nhờ thầy bói nói thầy không thể sống tới ba mươi tuổi. Thầy nghĩ rằng học làm chi rồi cũng chết, uổng, nên thầy đi tu từ năm mười hai tuổi, thầy thường vô chùa chơi và nghe pháp mới phát tâm tu. Thầy nghĩ rằng ba mươi tuổi mà chưa chết là nhờ phát tâm Đại thừa độ tận chúng sanh, nên Phật nuôi giữ mình lại để làm việc cho Phật. Lúc còn nhỏ, thầy bị bệnh tim bẩm sinh, chờ chết. Nhưng thầy tu được Phật hộ niệm, tim trở lại bình thường. Chỉ có Phật cứu mới sống được. Thật vậy, nhịp tim thầy luôn đập trên 100, chắc chắn phải chết. Nhưng nay gần tám mươi tuổi, khi Thiền, nhịp tim thầy còn 60. Khi thầy làm việc thì nhịp tim tăng lên 70. Vì vậy, thầy có niềm tin ở Phật hộ niệm một cách sâu sắc.

       Qua kinh Pháp hoa, Phật dạy chúng ta tu thực phải có kết quả, căn bản nhất là phải được quả Dự lưu là giải thoát. Lịch sử ghi rằng Xá Lợi Phất vừa trông thấy Tỳ-kheo Mã Thắng, ông đã chứng Dự lưu. Hoặc Phật thuyết pháp cho vua Tịnh Phạn, vua nghe xong liền chứng Dự lưu. Và Mục Kiền Liên thuyết pháp cho vua Tần Bà Sa La bị giam trong ngục, ông cũng chứng Dự lưu. Trên bước dường tu, thầy thường suy nghĩ về quả Dự lưu. Nghe pháp, rửa sạch lòng trần là đắc quả Dự lưu liền, nghĩa là chỉ buông bỏ, liền được giải thoát. Nếu chấp thì người đời hay người tu đều khổ. Phật bảo buông bỏ cái chấp sẽ được giải thoát ngay.

(Còn tiếp)

Tin Nổi Bật
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang
Chính Thức Khai Mạc Lễ Hội Văn Hóa Ấn Độ Tại Chùa Phổ Quang

GNO - Tối qua, 7-3, tại chùa Phổ Quang (quận Tân Bình), lễ...

Quay Về Nội Tâm
Quay Về Nội Tâm

Quay về nội tâm là đề tài quan trọng đối với Phật tử và là...

Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống
Điều Chỉnh Áp Lực Cuộc Sống

Tu học Phật pháp có nghĩa là điều chỉnh con người chúng ta...

Ẩn Tu Nhập Thất
Ẩn Tu Nhập Thất

Cuộc đời của Đức Phật đã gắn bó mật thiết với các khu rừng....

Mới cập nhật
Khai Đạo Giới Tử
Khai Đạo Giới Tử

Đức Phật dạy rằng ở trong tam giới không bao giờ được yên...

Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559
Chính thức khai mạc Đại giới đàn Trí Đức PL.2559

GNO - Sáng 2-12 (nhằm ngày 21-10-Ất Mùi), tại Đại giới...

Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức
Hình Ảnh Lễ Khai mạc Đại giới đàn Trí Đức

GNO - Sáng nay, 2-12, 1.009 giới tử Đại giới đàn Trí Đức đã...

^ Back to Top